Trang Chủ‎ > ‎Bến Văn‎ > ‎

MA CHUỘT - Nguyễn Đông Phương

 

Nguyễn Đông Phương

MA CHUỘT

 

 

Mặt trăng biến khỏi bầu trời đêm tháng này sang tháng khác. Không gian chuyển sang màu đỏ bầm. Gió rờn rợn da thịt rít từng hồi dài, trên cao, dưới thấp, vào tận những ngôi nhà đóng kín cửa. Khi gió lặng cây trong vườn vẫn run rẩy trút lá, lúa bắp ngoài đồng vặn mình nghiêng ngã phát ra âm thanh như tiếng rên khe khe. Ngoài đường quê, trên phố phường, người ta tụ năm tụ ba thì thầm bàn tán rồi ai cũng nhanh chân lo về nhà không la cà như trước. Đỗ Hoành vác cuốc từ ruộng đi luôn về nhà đóng chặt cửa lại mặt mày tái mét thì thầm với vợ:

-Mình ơi, làm sao bây giờ?

Vợ Hoành đang nhai trầu, lấy miếng bã trầu ra khỏi miệng:

-Nhiều người vui như tết đến....

Gã chồng nhón chân khe khẻ chạy ra mở cửa nhìn trước ngó sau ra chiều lo lắng lắm rồi quay vào kê miệng sát tai vợ:

-Ai vui như tết đến ?

-Nhà Chú Sáu, thím Hai, mợ Ba, dì Hương Cả, bác Phó Phồn nè...Cũng phân nửa người ở xứ mình. Ngoài thành phố, theo lời con thím Hai là sinh viên cho biết các thợ thầy, cánh mang kính trắng, thầy cả, đức ông đều rộn ràng...

Đỗ Hoành bỏ ăn mấy bữa người gầy rộc, râu ria tua tủa trên cằm, tóc tai phờ phạc. Gã lên đồng xuống rồi lại về nhà đi quanh kiểm tra bồ lúa, những cái cày, bừa, cuốc rồi nhìn ngắm con trâu, đàn heo trong chuồng như bị thôi miên.

Đêm đêm âm u. Khắp xứ, kẻ có nhà lầu cao lên sân thượng, người nhà tranh vách đất bắc thang leo lên nóc nhà, loại vô gia cư thì trèo lên những ngọn cây cao. Tất cả nhìn về phía núi xa xa, nơi phát ra những cơn gió rít rờn rợn thịt da trên cao, dưới thấp...Khuya, trên những dãy đại ngàn xa tít có những đóm lửa như ma trơi. Lẫn trong tiếng gió rít, nhiều người nghe rõ cả tiếng kèn. Tiếng kèn ma quái mỗi lúc một to dần. Thật quái đản, kẻ nghe âm thanh này muốn xỉu, người thưởng thức như mật ngọt chảy vào lòng, mặt ngẩng lên trời cao, tâm can giòn giã, xóm trên, làng dưới chạy ra đường nhảy tưng tưng...

Đỗ Hoành đêm đêm nghe tiếng kèn ma quái lẫn trong tiếng gió rít, tâm tính thay đổi. Gã phấn chấn quên mất nỗi âu lo. Trên khắp các làng mạc, Đỗ Hoành cùng hàng triệu người thao thức, mê hoặc tiếng kèn huyền ảo lẩn trong gió và ánh lửa ma trơi từ những dãy núi xa....

Gã ta có người bác họ là đức ông Đỗ Văn Ba ở thành phố. Đức ông cùng những đồng nghiệp sống trong những tòa tháp cao bằng ngà bên trong chứa đầy những cuốn sách dày cộm. Tài sản của các đức ông bao la, có từ lâu đời. Gã nông dân từ quê chạy ra phủ phục bên chân người bác họ:

-Đức ông có hưởng niềm hoan lạc từ tiếng kèn đêm đêm phía núi?

Đỗ Văn Ba đỡ đứa cháu đứng dậy nở nụ cười tươi tắn:

-Ta đã lệnh cho mở toang bốn cửa tòa tháp để tiếng kèn theo gió ấy thấm vào tận các trang sách...Tiền lệ chưa từng. Tiếng kèn từ phía núi giống như tiếng đàn của Thạch Sanh.

Hứng chí Đỗ Hoành ghé thăm người chú vợ là thầy cả Trương Như Thanh đang trú trong ngôi nhà mái cong. Thầy cả hân hoan bảo:

-Ôi! Tiếng vọng của lương tri và chân lý. Ta đã cho thu băng tiếng vọng  đêm đêm từ phương trời xa ấy rồi cho xe mở loa phát trên khắp các thị thành...

Đỗ Hoành như chắp thêm cánh đi như bay trên khắp phố phường. Trong những tòa nhà đồ sộ, hàng ngàn người mặc áo trắng, quần xanh, kính trắng đang phá những cánh cổng uy nghiêm bê những đống sách bìa cứng, dày cộm, vàng óng ra đường đốt. Lớp lớp người áo xanh la ó đứng đầy đường rồi hàng ngàn người ngồi xếp bằng lặng lẽ. Hoành nhảy cẫng lên vì âm thanh từ nhiều chiếc loa phát lại tiếng kèn mê đắm vọng về từ những dãy núi xa...

Khi Đỗ Hoành về lại nhà thì bất ngờ xảy ra, không phải riêng gã mà khắp xứ. Lúa bắp, sắn khoai để trong bồ bịch mặc dù được đậy điệm, rịch ràng kín mít bỗng nhiên “bốc hơi” dần. Mới hôm nay đầy bồ, ngày mai mở ra xem còn hai phần ba, ngảy mốt còn có một nửa, đến tuần sau hết sạch. Như ma ám, ban ngày Đỗ Hoành và hàng triệu người khác như mình ra đồng làm lụng cật lực để bù đắp phần lương thực bị mất đi, ban đêm leo lên mái nhà thưởng thức tiếng kèn cùng ánh ma trơi từ những dãy núi xa vọng lại. Ở thành phố đám người quần xanh, áo trắng, kính trắng không còn thấy đi xe đạp, ăn phở trong các hàng quán. Họ ăn khoai lang, mặc quần đùi và tụ tập ca hát vang trời. Các thầy cả bị mất hết các đồ dùng bằng kim loại, họ đi chân không chặn các ngã đường. Những đức ông đóng cửa các tòa tháp ngà ra đường giả làm ăn mày. Trên khắp các con phố, loa phóng thanh liên tục phát ra tiếng kèn mê hoặc....

Nhiều ngày liền không thấy mặt trời lên. Tiếng hò reo khắp mặt đất vang dội. Bỗng nhiên nơi nơi nín bặt. Trên nền trời u u đỏ bầm xuất hiện những quần lửa ma trơi, lúc này ngay trên đỉnh đầu thay thế cho ánh mặt trời chứ không phải từ những dãy núi xa xa mờ mờ. Người bật ngửa bất tỉnh trên sàn nhà, kẻ lập cập quì xuống lạy như tế sao, đó đây vang lên tiếng hò reo, những tràng pháo tay như sấm nổ, cù dậy.

Bỗng nhiên đám sinh linh trên nguồn dưới biển, phương Bắc phương Nam đứng phắc cả dậy ngước mắt lên trời. Hàng triệu đôi mắt lạc thần. Quần lửa ma trơi biến mất, giữa thinh không phát ra tiếng kèn huyễn hoặc. Già trẻ, trai gái, thanh niên thiếu nữ lũ lượt bước ra khắp nẻo đường quê. Hàng hàng lớp lớp người áo xanh, trắng, vàng, thầy cả, đức ông lũ lượt rời khỏi chỗ, băng ra các đường phố lớn....

Tai mê đắm, mắt mở to, tim rộn ràng, mặt mày phơi phới, đoàn người chen chân trên khắp các nẻo đường, đen đặc trên mặt đất. Người có xe đi xe, không xe đi bộ. Họ vượt suối trèo non lặng lẽ tiến về phía trước. Không biết bao nhiêu ngày đêm, đoàn người đi theo tiếng kèn kỳ bí dẫn đường. Bây giờ ai cũng nhìn thấy được, giữa thinh không, nơi phát ra âm thanh mê hồn có đám khói sương hình con chuột cống đang thổi kèn. Ông Tí đi lui. Đoàn người lũ lượt bước theo, kẻ trước, người sau dập dìu. Bỗng nhiên có nhiều tiếng quát:

-Nó là ma chuột, mọi người hãy quay lại gấp!

Lại có nhiều la to ầm ĩ phản đối:

-Bè lũ phá rối! Chúng mày im ngay! Mọi người sắp đến đích. Bà con hãy yên tâm dấn bước, chúng ta sắp đến nơi..

Rách rưới lầm than, ốm đau bệnh tật, đoàn người vẫn mải mê lê bước. Thỉnh thoảng nhiều tràng pháo tay, reo hò đây đó dội lên. Nhà cửa, làng mạc, thành phố, cánh đồng bỏ lại tít tắp phía sau lưng. Trên cao tiếng kèn mê hoặc, thôi miên. Không thấy mặt trời, mặt trăng, chẳng biết bao nhiêu ngày tháng trôi qua... Đêm tăm tối hoang vu, đoàn người thấy bước chân mình giẫm trên cát. Mệt mỏi, đói khát, họ nằm lăn ra la liệt. Hàng triệu sinh linh chìm vào giấc ngủ rã rời. Trên cao, tiếng kèn vẫn mê mẩn.

Mặt trời lên sáng bừng, đoàn người thức giấc hò reo. Bao lâu rồi bầu trời đỏ bầm một màu u u, vầng thái dương đi vắng. Có điều gì đó bất thường. Không gian thinh lặng, ai nấy ngước mắt nhìn lên bầu trời, đám khói sương tan biến, tiếng kèn lặng ngắt tự bao giờ. Ánh sáng chan hòa. Đoàn người dụi mắt nhìn ra chung quanh. Có tiếng la hét ầm ĩ:

-Đây là đâu?

-Sa mạc cát trắng mênh mông bốn bề bà con ơi! Nhiều tiếng gào lên thảng thốt.

Tiếng la khóc dậy lên như đám tang. Những âm thanh tức tưởi, phẫn nộ, bi thương bị gió và nắng sa mạc cuốn vào thinh không. Tiếng chửi bới vang lên thấu trời xanh:

-Tiên sư cha loài ma chuột! Chúng mày lừa đảo dẫn bọn tao bỏ giữa sa mạc.

Tiếng đập thình thịch vào đầu vào ngực của cánh áo xanh, kính trắng, thầy cả, đức ông....Đỗ Hoành bưng mặt khóc hu hu:

-Nhà nó ơi! Làm sao bây giờ? Tết có đến đâu mà vui...

                                    0o0o0

Đoàn người rách rưới thảm hại dắt dìu nhau về lại nơi xuất phát. Theo thói quen vừa bước vào nhà Đỗ Hoành chạy đi kiểm tra bồ lúa, các loại nông cụ, con trâu và đàn heo. Gã đứng chết lặng. Tất cả đều biến mất. Gã đâm sầm chạy ra đồng. Cảnh lạ hoắc lạ huơ. Những thửa ruộng thân thương đã “bốc hơi” tự lúc nào. Tiếng khóc than nỉ non ai oán vang lên khắp làng mạc sau những lũy tre xơ xác tiêu điều. Các đức ông về lại các tòa tháp ngà giật mình tá hỏa: Tài sản mất sạch. Họ mím môi, vò đầu. Nhiều người bỏ đi  ăn mày thật. Đến đâu cũng mặc cảm.

Các thầy cả chuyên ngồi đường ngồi sá tai bị điếc câm vì nghe nhiều quá với âm lượng cao tiếng kèn quái quỉ. Về lại chốn xưa mặt mày họ vẫn hơn hớn vì luôn no đủ, vả lại màng nhĩ đã lủng nên chẳng nghe, hiểu gì. Riêng cánh kính trắng, reo hò la hét quá độ bị đứt thanh quản giờ không nói năng được, suốt ngày mặc quần đùi đi vào đi ra như người mắc bệnh tâm thần. Nhiều kẻ bị điên thật vì thường chạy vào toa lét lấy cây chùi cầu tự gõ vào đầu mình. Gõ mãi một hồi chất lầy nhầy trong lỗ tai chảy ra như chất ỉa sốn từ hậu môn. Kẻ tự hành xác ra dấu cho mọi người biết đó là những mật mã, tín hiệu trên thế gian này. Bởi đầu chứa nhiều thứ đó quá dễ bị tiếng kèn của ma chuột mê hoặc đến thân tàn ma dại như thế này...

Từ ngày về lại nhà Đỗ Hoành luôn bảo vợ nấu sẵn một nồi nước sôi để trong nhà. Nhiều ngày như thế vợ Hoành bực mình:

-Nấu nước sôi làm gì mà ông bảo tôi làm hoài như vậy?

Gã chồng trợn mắt, rít giọng:

-Mồ tổ lũ chuột! Chuột thường, chuột quỉ, chuột ma gì vào lại nhà đây, có chui vào ống tre trốn trong đó tôi cũng chế nước sôi cho chúng ngủm cù đeo...

Vợ Hoành cho lời chồng là chí lý nên nhiệt tình luôn nấu nước sôi để sẵn trong nhà. Thật tội nghiệp cho vợ chồng gã nông dân. Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Cũng giống như cá chép một lần “vượt vũ môn”, loài chuột yêu quái thay hình đổi dạng, hiện diện khắp nơi và đã trở thành một đẳng cấp khác. Chúng thành bia thành tượng. Những trưa hè, sau lũy tre làng lại vọng lên tiếng ru con ai oán tự ngàn xưa: “Thương thay thân phận con rùa”....

                                                                        Nguyễn Đông Phương