Trang Chủ‎ > ‎Bến Văn‎ > ‎

NGHĨ BÊN DÒNG SÔNG MẸ - Phùng Tấn Đông

 
 
 

NGHĨ  BÊN DÒNG SÔNG MẸ

 

Một ngày bất chợt về sông, nhìn dòng xuôi nước xanh miền hạ trôi thanh bình ra biển, ngó lại mình tuổi đà tri thiên mệnh với bao nhiêu  phần việc chưa làm, ừ thì biết thời gian có đợi ai đâu...Sông miên man chảy, tâm trí con người thả trôi bao nhiêu là ký ức. Tuổi thơ. Căn nhà bên sông. Câu hát ầu ơ của mẹ . Ban trưa có gió nam khan thổi xao xác bờ tre, bụi chuối .Mẹ hát “ ơ ầu ơ làm nhà ở dựa bực sông- đêm nghe con cá quẫy ngày trông con chim gù - bậu lấy chồng rồi thời xuất giá tòng phu - dầu ai lên võng xuống dù mược ai...” Tết này mẹ nằm một chỗ vì đau, đau đủ thứ, câu thơ Trần Đăng Khoa sao mà gan ruột “ nắng mưa từ những ngày xưa- lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan” . Nhớ mẹ những năm chiến tranh ngược xuôi buôn bán trên dòng sông này, nghĩa là cũng đi giữa hai bờ sống chết chỉ để nuôi sống đàn con. Chợt hiện những vần đẹp nhất trong sách giáo khoa thời đi học  “...con đau mẹ khôn xiết buồn lo- bán đôi bông cưới mua thang thuốc- mua bánh tai heo vở học trò” (Kiên Giang)

 

Dòng sông quê hương tự lâu lắm đã gắn với truyền thuyết về Mẹ -Mẹ Thu Bồn.Ta từng qua nhiều những dòng sông phương Bắc, phương Nam nhưng chẳng nơi đâu tên con sông gắn với truyền thuyết về người mẹ- nữ- thần- sông như dòng sông Thu đất Quảng. Với những nhà nghiên cứu văn hóa thì đây là hiện tượng tiếp biến văn hóa, giao thoa văn hóa- khi những cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, cư dân vùng Thanh Nghệ vốn mang truyền thống thờ Mẫu, thờ Tứ Pháp...của văn hóa Đại Việt từ phía Bắc vào “ khế hợp” một cách tự nhiên với tín ngưỡng thờ Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm, truyền thống Mẫu hệ của cư dân Đông Trường Sơn...Người xứ Quảng thì kể rằng: “ ngày xưa có ông bà phú hộ, sinh được một người con gái, khi mới lọt lòng cô đã có mái tóc dài ngang lưng, hàm răng trắng ngà. Đặc biệt, cô chỉ cười chứ không khóc như những đứa trẻ khác. Nghe chuyện lạ, người khắp nơi đổ về xem, ai ai cũng cảm mến và ước mơ sinh được một đứa con xinh đẹp như thế. Lên năm tuổi, cô đã biết dùng các loại lá , rễ cây để chữa bệnh cho người và gia súc trong làng. Tiếng lành đồn xa, những người bệnh tìm đến nhà cô ngày một đông.Cô không bao giờ nhận của ai một chút tiền công hay lễ vật. Có rất nhiều vương tôn công tử đến cầu hôn nhưng cô đều từ chối và dồn hết công sức cho việc cứu nhân độ thế. Đến năm 50 tuổi, cô được dân làng tôn vinh là Đức Bà Hằng Cứu Thế. Bà nhập bồng lai đúng giờ ngọ ngày 12 tháng hai âm lịch. Theo di ngôn của Bà, dân làng không dùng vải vóc để tẩm liệm mà dùng hoa lá thiên nhiên. Cỗ quan tài của Bà đặt tại đình làng hết 7 ngày 7 đêm (thất tuần) các chức sắc, hào mục thay phiên nhau túc trực lo hương khói. Đến đêm thứ bảy, dân làng ngửi thấy mùi hoa ngào ngạt, bèn chạy ra đình xem thì thấy nắp quan tài đã mở tung, chỉ thấy đầy hoa sứ mà không thấy xác Bà đâu nữa. Mọi người lấy làm thương tiếc, họp lại và xây dựng một ngôi điện thờ, cung nghinh chiếc hòm hoa sứ về thờ phụng, hằng năm hành lễ giỗ Bà” Truyền thuyết khác cho rằng Bà là một nữ tướng Chiêm Thành có mái tóc dài rất đẹp, sau khi thua trận với quân vua Lê Thánh Tôn, Bà chạy về Mỹ Sơn, khi đến ngang làng Thu Bồn, tóc của Bà vướng vào cành cây, ngã từ lưng voi xuống...Lại có truyền thuyết Bà có tên là Bô Bô, nữ tướng nhà Lê bị giặc truy lùng đến làng Thu Bồn thì ngã ngựa, tóc vướng vào chân ngựa, bị giặc giết, nhân dân kính phục lập lăng thờ...

            Như thế, như thế tự bao đời, Mẹ Thu Bồn- hay Pô Pô thần nữ người Chăm- là hiện thể của dòng sông xứ sở. Mẹ là mù sương buổi sớm cùng ngọn nước triều Cửa Đợi, Mẹ là chiều hôm gió trở nước ròng chạng vạng trăng lên, Mẹ là chuyến đò Trung Phước, là vườn trái Đại Bường...Mẹ là người con gái của ca dao theo nổi nênh duyên phận những đêm nằm nghe “chớp biển mưa nguồn” để làm nên câu hát đắng lòng ly xứ “ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng- thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi”Mẹ là biển xanh dâu, là xa hút mộng ban đầu câu thơ Bùi Giáng... Không biết nữa, chỉ biết Mẹ là củ khoai, hạt lúa...nuôi con lớn lên để biết yêu quê, yêu Mẹ, biết sống nhân ái giữa mọi kiếp đời, biết chọn sự khoan dung thay cho thù hận...Thì ngay trong truyền thuyết về Mẹ đã khắc ghi sâu đậm lòng tận thiện, tâm nguyện cứu hộ độ sinh của Mẹ Quán Thế Âm... dù ở phe nào Mẹ vẫn đứng về phe nước mắt . Mẹ là hiện hữu của nhân tính phổ quát toàn nhân loại mà nhiều người vì ngã chấp vì định kiến cho là không thật, là mạo danh ...

            Những đứa con của Mẹ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều thèm ngã vào vòng tay từ ái của Mẹ . Còn nhớ những năm dài xa quê, trong cơn khát cháy những dặm rừng mùa khô, ảnh ảo của con Mẹ là con sông quê xanh tràn bờ bãi, là đôi mắt mẹ trìu mến ngày xa...Câu thơ Thu Bồn về sông quê luôn ám ảnh “... Sông Thu Bồn ơi ta nghe người đương thở- Vỗ triền miên gội tóc những nương dâu...” (Hôn mảnh đất quê hương) Mẹ hằng sống, ngày hằng thơ- như câu thơ của Réne Char “sông mới sớm đã ra đi không bạn đường mải miết”. Chẳng biết dòng sông của huyền thoại có làm nên một mẫu gốc (archétype) về “vô thức tập thể” như K. Jung (1) nói hay không mà khi nhạc sĩ Xuân  Hương ôm đàn hát “Mẹ xõa tóc Thu Bồn xanh ngát...”(Dáng Mẹ )  lòng ta chợt ngợp mát hình bóng dòng sông, lòng ta nghĩ về người mẹ riêng có của mình với bao xót xa thương khó

            Về bên dòng sông, nghe trong lòng mình có một dòng sông khác, hay là dòng kinh thơm chảy triền miên những nhận biết về lẽ huyền nhiệm của dòng đời, lẽ đạo- rằng con người có hai thứ vô minh, thứ nhứt là vô minh bẩm sinh, nghĩa là sinh ra đã có, có do không hiểu về tứ đế, về lẽ vô thường, có do chấp ngã, do tham , sân, si..., thứ hai là vô minh do được/bị bởi sự quy định về nền văn hóa mà ta quy thuận .Mọi sự biện biệt, chấp nê, sàm báng...do tính khác biệt văn hóa này (nếu có ) tạo tác sẽ khiến con người  tiếp tục mê lầm và ngày càng xa lìa thể tính bản nguyên

            Chúng con vẫn nhớ những ngày bom đạn, những vết thương trên dòng sông Mẹ, những nỗi đau khôn khuây trong lòng Mẹ và luôn tâm niệm rằng những đứa con của dòng đời dâu bể khi lớn lên xa vòng tay mẹ bị cuốn vào ly hận, nổi chìm sẽ có những phút giây ngồi lại để nghe và thấu cảm những tình tự uyên áo, sâu xa của “ huyền thoại” Mẹ , phải không MẸ QUÊ HƯƠNG..

 

Chú thích

(1) Carl Jung (1875-1961).

                                                                                   

PHÙNG TẤN ĐÔNG

Hội An 2/2012

 

Lên sóng lúc 21: 07 ngày 27.02.2012