Trang Chủ‎ > ‎Bến Văn‎ > ‎

VẾT THƯƠNG LÒNG MẸ QUÊ & TUỔI THƠ TÔI

                                                                             NGUYỄN THIỆN VĂN
 
 
Cuối thập niên 1960, chiến tranh bắt đầu lan rộng trên các làng quê miền Trung. Lúc đó, tôi còn nhỏ lắm, nhưng nay sau gần nửa thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ như in nhiều chuyện tưởng đã thành xa xưa. Người ta thường bảo: con nít thời chiến mau khôn, không biết có đúng không? Ký ức tuổi thơ giờ còn in đậm trong trí nhớ tôi là hình ảnh những bà mẹ quê gánh con, hoảng hốt chạy qua vùng chiến sự. Trong đám chạy loạn đó có mẹ con tôi. Mẹ tay bồng em út, vai gánh đôi thúng:một đầu là ruột nghé đựng gạo, cái nồi nhôm, bọc áo quần; đầu kia đứa em gái kế tôi ngồi, hai tay nắm chặt tao gióng, khóc hu hu vì sợ hãi.Còn tôi nén chặt môi nén tiếng khóc,thở hổn hển cố chạy theo cho kịp mẹ.
 
Cũng có vài người mẹ, nhà trúng đạn pháo cháy thiêu, chẳng còn gì để mang theo ngoài đứa con nhỏ, nên họ phải đặt vào một đầu thúng hòn đá hay viên ất lô, cho đôi quang gánh cân bằng với đứa trẻ ở đầu thúng kia. Phía sau lưng súng đạn nổ vang nghe thật gần, như tử thần trêu ngươi vừa đùa giỡn vừa đe doạ đuổi theo đám dân lành khốn khổ đang chạy trối chết.
 
 
 
Tuổi thơ tôi đã từng năm lẩn bảy lượt trải qua các cuộc chạy giặc như thế. Một lần, tôi vừa chạy vừa ngoảnh lại nhìn một người mẹ ngồi trên vệ đường, ôm xác con kêu gào khóc than thảm thiết; ngực áo trắng đứa bé loang lỗ máu. Hình ảnh đau thương đó cứ ám ảnh tôi suốt bao năm tuổi thơ. Nhiều đêm tôi mơ thấy mẹ con họ; có khi người đàn bà đó biến thành mẹ tôi và đứa bé là em gái út của tôi, tôi kinh hoảng thét lên trong nỗi đau xé gan xé ruột. Tôi dại dột đem kể lại giấc mơ khủng khiếp đó cho mẹ nghe. Với gương mặt thất thần hoang mang lo lắng, tay run run, mẹ ôm chặt ba anh em chúng tôi vào lòng, chắt lưỡi thở dài, giọng rưng rưng: "Tên bay đạn lạc biết đâu mà lường!".
 
Chiến sự ngày càng ác liệt, nhiều nhà trong làng trúng đạn pháo cháy rụi, cảnh bị thương chết chóc xảy ra hàng ngày. Thằng Đen, lớn hơn tôi một tuổi, thả bò ăn ở gò Mồ Côi, bị vướng lựu đạn chết tại chỗ. Mẹ nó khóc gào như điên dại, cùng dăm người hàng xóm khiêng chiếc hòm nhỏ liệm xác con, ra khu Mả Thí chôn lấp vội vàng. Một số trai tráng trong làng lẻn vào núi theo Việt Cọng; một số thanh niên khác đến tuổi động viên bị bắt đăng lính Quốc Gia. Gia đình tôi và gia đình cô Út, cùng nhiều người trong làng, gồng gánh kéo nhau sang bên sông lánh nạn. Một số gia đình khác, trong đó có gia đình chú Bảy X và gia đình cô Ba T (chú và cô ruột tôi) lại vượt truông Cấm Muồng về vùng B- vùng "Giải Phóng". Riêng cô ruột thứ tám của tôi, có chồng tập kết ra Bắc ngay sau đám cưới, thì nhất quyết bám trụ ở lại làng với mấy người bạn cùng cảnh ngộ.
 
Gia đình tôi đến tá túc nhà ông cậu ruột ở quê ngoại- một làng quê cách tiền đồn quận lỵ hơn cây số. Chiều chiều, mấy đứa em con cậu thường rủ tôi ra đường cái chơi, tò mò đứng nhìn những chiếc xe nhà binh chở lính tráng, súng đạn chạy qua tung bụi mù trời. Một lần, tôi hoang mang sợ hãi khi chứng kiến cảnh một đám phụ nữ tức tưởi khóc, chạy theo chiếc xe GMC chở ba bốn quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ. Với trí óc của thằng bé lên mười, tôi không  hiểu vì sao người lớn lại chia phe bắn nhau, nhưng tôi biết trong đám phụ nữ đó có những người mẹ đang chờ nhận xác con từ chiến trường chở về và tôi có thể cảm nhận được nỗi đau xé gan đứt ruột của những bà mẹ mất con. Kể từ lần ấy, tôi không dám ra đường cái chơi nữa.
 
Ngay từ lớp đệ thất, anh Ba tôi đã vào học trung học nội trú ở Nha Trang, không sống với gia đình ở quê. Thời buổi loạn lạc, có khi cả năm trời không nhận được thư từ tin tức gì từ anh Ba. Từng đêm, mẹ tôi trằn trọc thao thức, lo lắng về đứa con sống xa nhà. Có khi nửa đêm, mẹ giật mình choàng dậy hốt hoảng, sau giấc mơ chẳng lành. Mẹ đánh thức cha dậy, lo lắng thì thầm: "Không biết thằng Ba trong ấy có mệnh hệ gì không, sao lòng tôi như lửa thiêu than đốt? Hai bên đánh nhau coi bộ còn lâu, vài năm nữa thằng Ba đến tuổi đăng lính... tôi lo quá!". Tôi giả bộ như đang ngủ say, nằm nghe mẹ to nhỏ với cha, nước mắt tôi bỗng trào ra, phần nhớ anh Ba phần thương mẹ.
 
Rất may, điều mà mẹ tôi thức trắng nhiều đêm lo lắng không xảy ra. Anh Ba tôi, vốn có tính tự lập khi còn rất nhỏ, học giỏi, thi đậu tú tài 1 rồi tú tài 2, nên được hoản dịch vì "lý do học vấn". Anh đang học dở năm thứ ba đại học thì chiến tranh kết thúc. Nhưng nhiều người mẹ khác cùng làng không được may mắn như mẹ tôi...
 
Sau hai mươi năm chiến tranh, năm 1975 đất nước hòa bình, dân làng tôi lần lượt hồi cư. Thím Ba- vợ chú Bảy X- dẫn ba đứa con về lại làng xưa; còn chú Bảy và ba đứa con khác phải vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất vùng B, vùng mà chính quyền Sài gòn trước đây gọi là "vùng oanh kích tự do". Mẹ tôi và thím Ba, hai chị em dâu sau mười mấy năm mới gặp lại, ôm nhau khóc nghẹn ngào. Mấy anh em tôi và ba đứa em họ cũng oà khóc theo. Gia đình cô Ba T, vợ chồng con cái tất cả tám người cũng mãi mãi nằm lại đất vùng B. May còn sót lại người con trai út tên Th, được tổ chức đưa ra Bắc học từ khi anh lên mười hai tuổi. Còn cô Tám X ở lại làng, tham gia công tác và hy sinh trong một trận chống càn, trước năm 1970. Cha tôi bậm môi, nuốt nước mắt vào trong, ngồi chết điếng, trân trân nhìn lên ảnh bà nội trên bàn thờ. Không đau không đớn làm sao được, khi ông vĩnh viễn mất đi người chị ruột, chú em trai, cô em gái và mười mấy đứa cháu kêu ông là bác ruột, cậu ruột! Không biết sao lúc đó, tự nhiên tôi chợt nghĩ: " Cũng may, bà nội bị bệnh qua đời trước khi chiến tranh nổ ra, nên khỏi phải trải qua nỗi đau mẹ mất con, bà mất cháu!". Mắt nhoà lệ, tôi lặng yên nhìn lên ảnh bà nôi trên bàn thờ và hoảng hốt khi thấy bà nội cũng đang khóc; có điều lạ là: nước mắt của bà đỏ như màu máu!? Tôi cảm thấy sợ hãi và nhiều năm sau đó cũng không dám kể điều này với bất cứ ai.
 
 
 
Cô Ba T cùng một số người mẹ trong làng, như bà Tiên, bà Điệt... được phong "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đợt đầu tiên. Tôi đến nhà hỏi thím Ba: "Chú Bảy và ba em đã được cấp bằng liệt sĩ, thím dư tiêu chuẩn để được phong bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sao cháu nghe chú Ch phụ trách công tác thương binh liệt sĩ xã nói, thím không chịu làm hồ sơ?". Thím Ba ngồi thẫn thờ, nói:"Chẳng ai mong chồng con mình chết để được phong anh hùng! Vết thương trong lòng người mẹ, người vợ như thím đây mãi mãi không thể lành, đau lắm xót lắm... Cháu có biết không?".
Tôi chợt nghe rùng mình ớn lạnh khi chợt nghĩ đến những bà mẹ có con đi lính Cộng hoà chết trận, hoặc bỏ xác ở những trại học tập cải tạo nơi rừng thiêng nước độc... Định nói điều gì đó để an ủi thím Ba, nhưng tôi nghẹn lời không nói được, đành ngồi lặng im cùng thím nhìn về phía núi mờ xa...
 
NGUYỄN THIỆN VĂN