NGUYỄN NHÃ TIÊN: Cây bút viết tản văn có nghề

                                                       THANH QUẾ
 

(Đọc tập Ngày bắt đầu truyền thuyết, NXB Đà Nẵng 2007)

 

 

          Nguyễn Nhã Tiên là một nhà thơ, anh là tác giả của nhiều câu thơ hay và nhiều bài thơ hay nữa. Nhưng với văn xuôi, có lẽ tập truyện và ký “Ngày bắt đầu truyền thuyết” là tác phẩm đầu tay của anh.

 

          Trước đây, tôi có đọc một số bút ký của Nguyễn Nhã Tiên gửi về tạp chí Non Nước của Hội văn nghệ Đà Nẵng, viết về những vấn đề xây dựng Đà Nẵng, tôi cảm thấy thất vọng vì hình như anh lấy những sự việc, con số từ trong các báo cáo ra, cả con người anh gặp gỡ cũng được viết như lối viết báo. Nhưng đọc “Ngày bắt đầu truyền thuyết” tôi hoàn toàn bất ngờ. Văn anh như có một mạch ngầm mơ hồ và xao động cuốn hút làm tôi không dứt ra được. Đó là văn của một nhà thơ, hay nói đúng hơn, văn anh đầy chất thơ. Sở dĩ như vậy vì Nguyễn Nhã Tiên đã tìm ra đúng mạch, đúng sở trường của anh: Nguyễn Nhã Tiên, một cây bút viết tản văn; tuỳ bút. Dù cũng là thể ký, nhưng anh có vẻ không thích hợp với ký sự, bút ký, những thể loại cần nhiều sự kiện, con người, ngồn ngộn chất sống. Nguyễn Nhã Tiên thích hợp với những thể loại cần để cảm nhận, suy nghĩ hơn vì thế anh thích hợp với tản văn, tuỳ bút, những thể loại gần với thơ hơn. Anh đi đâu, dù đến sông Hàn, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Bà Nà (Đà Nẵng) hay xa hơn một chút là Đại Lộc, Hội An, Duy Xuyên, Điện Bàn và các vùng đất xa hơn nữa như Huế, Tiên Điền (quê cụ Nguyễn Du), Vĩnh Bảo (quê cụ Trạng Trình), Yên Tử...hay bắt gặp hình ảnh các em bé mặc áo mới dạo xuân, một cánh trầu vàng rơi, một dòng sông, một đêm ngồi canh nồi bánh chưng... Anh đều cảm nhận tinh tế, có chiều sâu về văn hóa, lịch sử với những chi tiết, những suy nghĩ làm lay động lòng nguời. Khi đến chân núi Sơn Trà anh cảm nhận sâu xa về lịch sử: “và khi chạm vào mây núi Sơn Trà thì cái nghĩa trang Y Pha Nho nằm dưới chân núi từ hơn thế kỷ trước gợi mở lại một thời hào hùng gươm đao của đoàn quân nghĩa dũng Đà Nẵng trước đầu sóng ngọn gió của tổ quốc và ngày nay nơi này là một trong những địa chỉ của khách phương Tây tìm đến để nghe quá khứ gót giày phiêu lưu của những cuộc viễn chinh mà ngẫm ra cái lẽ vĩnh hằng của hòa bình, tiếng nói lương tri của toàn nhân loại”. Đây là cảm nhận trên đường đi đến Tiên Điền quê cụ Nguyễn Du, có gì đó buồn, cô đơn như chính tâm trạng của Nguyễn ngày xưa từng đặt chân lên vùng này: “Hình như không nơi đâu trên đất nước ta có sim mọc nhiều như đất Hà Tĩnh... Không hiểu vì sao nhìn vào những dãy đồi sim dẫu chưa mùa hoa nở tím vẫn cứ thấy buồn buồn một cách ngớ ngẩn. Những tên đất rú Ông, rú Nghèn...gợi lên trong trí tưởng tượng những làng quê Việt Cổ xưa êm ả và thanh bình”. Anh như nhận ra sức sống mùa xuân xưa trỗi dậy trong những làn gió nhẹ thời thơ ấu: “mấy chục năm qua, dẫu có xa xôi cách trở thế nào hễ đến mùa tết gọi là tôi chạy về với làng quê thân yêu của mình. Bây giờ thời hiện tại, làng quê nào chẳng ít nhiều hóa phố. Thế nhưng lay phay ngọn gió chớm xuân thổi qua đồng bãi, rực vàng hoa bí, hoa cải, hoa dưa là cái bầu không khí ngày xưa hiện ra gần như nguyên vẹn”. Ngồi bên nồi bánh chưng ngày tết, anh ngẫm ra biết bao điều về ngọn lửa: “Đời người biết bao lần chong bên lửa, thức bên lửa. Lửa đốt đồng sáng rực khói ven sông. Lửa buồn buồn bếp mẹ quạnh quẽ những chiều đông, lửa đánh thức thời thơ dại ngồi bên nồi bánh tét say mê đêm trừ tịch. Trong mọi sắc màu của lửa có lẽ lửa nấu bánh đêm giao thừa là thứ lửa linh thiêng nhất, đẹp nhất, mông mênh ký ức nhất”. Còn rất nhiều cảm nhận về cuộc đời, lịch sử, văn hóa trong những bài tản văn của tập sách mà ta không thể kể hết ra đây...

 

          Phần truyện ngắn của anh, có thể nói cũng là truyện của một nhà thơ. Ở đây ít tình thế, sự kiện mà nhường chỗ cho những tâm sự, giải bày, nhường chỗ cho sự cảm nhận về cuộc đời, về cám cảnh thân phận con nguời. Có thể nói không ngoa, Nguyễn Nhã Tiên đã mượn những nhân vật để nói cảm xúc của mình, để anh viết tản văn...Rõ ràng những đoạn văn sau đây là giọng của tản văn: “Có lẽ vì đất hiền hòa, đất ẩn chứa và ban phát một sự thanh bình chừng như lắng sâu cùng trầm tích sẵn sàng cho con người một niềm bình yên, an nhiên tự tại. Nghĩa là ai đó ngược xuôi bôn ba, mệt nhoài công danh và áo cơm, khi đến sinh cơ lập nghiệp ăn ở với Đồng Chàm cái được đón nhận đầu tiên là sự bình yên thanh thản cho mọi tâm hồn” (Chim Khôn) hoặc: “Nếu như có những tình cờ mang đến cho con nguời một sự may mắn nào đó thì cũng có những tình cờ mang đến cho con người sự rủi ro. May mắn và rủi ro, khổ đau và hạnh phúc, giải phóng và tù ngục...tất cả những thứ ấy cứ xoắn vào nhau chẳng biết đâu mà lần” (Hoa cỏ) vv.. và vv..

 

          Tất nhiên, trong các thể loại có sự xâm nhập lẫn nhau, truyện cũng cần những câu “bình” như tản văn để nâng vấn đề lên. Nhưng đây, rõ ràng trong các truyện, giọng tản văn lấn át cốt truyện, nhân vật, lối kể chuyện...

 

          Nói đi nói lại, tôi vẫn cứ muốn nói về chuyện viết tản văn của Nguyễn Nhã Tiên. Ờ, có lẽ đó chính là sở trường của anh, mặt mạnh của anh trong văn xuôi. Nếu như có thể “khuyên” anh như một nguời bạn, tôi muốn Nguyễn Nhã Tiên hãy đi vào viết tản văn, tuỳ bút hơn là viết ký sự, bút ký và truyện ngắn. Có thể cảm giác của tôi chưa thật chính xác chăng?

 

          Đầy những cảm nhận sâu thẳm, xúc động, giàu tính khái quát về cuộc đời, về lịch sử, văn hóa, Nguyễn Nhã Tiên đã làm cho tập sách của anh bỗng lung linh, mơ hồ, huyền ảo hơn, sâu xa hơn, đẹp và buồn hơn, cái buồn sao cứ làm cho ta yêu mến da diết cuộc đời, nuối tiếc cuộc đời đến dường vậy. Vì thế, đọc văn anh, ta cứ phải lật đi lật lại các trang sách, xem đi xem lại những dòng ta yêu thích, vừa đọc vừa nghĩ, vừa nghe ký ức gọi về, vừa ngẫm nghĩ mình trong hiện tại. Nghĩa là muốn đọc văn anh, phải có tấm lòng đồng cảm, có kiến thức lịch sử, văn hóa thì mới thấy hay.

THANH QUẾ

   

Nguồn: Văn nghệ Trẻ và phongdiep.net