Trang Chủ‎ > ‎Đò Dọc (2)‎ > ‎

TỤ VINH - NGUYỄN SƯ GIAO:

         Mắt Thơ vọng nhớ trời xanh
 
 
 
 
 

 

 Nhà Thơ TỤ VINH (năm 1972)

 

Tên thật: NGUYỄN SƯ GIAO

Sinh ngày 22 tháng 8 Ất Hợi (1935)

Quê quán: làng Tịnh Yên, tổng Đại An,  huyện Đại Lộc,

tỉnh Quảng Nam (nay là làng Tịnh Đông Tây,  xã Đại Lãnh,

Đại Lộc, Quảng Nam) nằm bên dòng sông Vu Gia. Tác giả

lấy hai chữ đầu của tên làng và tên sông là Tịnh Vu, và lái

lại thành Tụ Vinh làm bút danh.


Thương phế binh VNCH (1972), gửi lại chiến trường một chân,

một tay và đôi mắt. Hiện đang sống ở quê với hiền thê.

 

Đã in:

 

 

* Dưới trăng (thơ) NXB Thuận Hoá 2001

* Nước non ngàn dặm (Thơ in chung nhiều tác giả)

* 700 năm thơ Huế (Thơ in chung).

 

 
 

BẤT NGỜ

 

Em nhìn... ngàn sao rớt xuống

Tim anh hé vội, hứng vào

Đêm về một mình lén mở

Tay cầm mà những nôn nao

 

Bồi hồi vân vê "ánh mắt"

Của mất mà em biết không?

Ao ước em đòi... trả lại

Cho lòng tiện giải tình ngông

             

Rồi trong ngây thơ háo hức

Em đến, cho anh bất ngờ

Không đòi, em còn tặng nốt

Cả hồn trinh lẫn duyên mơ.

 

 

ƯỚC

 

Ô hay!

kìa ánh trăng vàng

đã hôn

còn những ôm choàng lấy em

 

Anh về

trằn trọc thâu đêm

bởi khao khát

nỗi ước thèm

làm trăng.

 

 

HUẾ BUỒN

 

Ầm vang sấm động... Huế chìm sâu

Lá rụng, hoa rơi rũ dáng sầu

Đỉnh Ngự chôn vùi trong lửa khói

Khuất mờ Thiên Mụ, sẫm Văn Lâu

 

Đò bên Gia Hội chừ thưa vắng

Chiều xuống Hương Giang đến não nùng

Mái đẩy câu hò day dứt quá!

Chạnh buồn, chạnh nhớ... chạnh Hoàng cung

 

Huế thương, Huế đẹp, Huế đài trang

Mấy tưởng Nam Giao dốc đoạn tràng

Gió loạn Hổ Quyền da diết nỗi

Đục dòng An Cựu sóng hờn loan

 

Đông Ba nức nở hồng hoe mắt

Áo trắng trường xưa những ngỡ ngàng

Lỗi nhịp Tràng Tiền rơi rớt lệ

Nghẹn ngào Vĩ Dạ khóc trăng tan

 

Trăng tan sấm động hỡi đâu là

Để Huế thương sầu, Huế xót xa

Biết đến ngày nao thôi bão loạn

Cho lòng Đại Nội ngớt mưa sa.

1968

 

 

NẮNG QUÊ

 

Nắng lên nắng ghẹo lúa đồng

Lẳng lơ hôn mái tóc bồng biếc xanh

Lúa đang con gái ngoan lành

Theo chiều sóng nắng dỗ dành xiêu xiêu

 

Khéo vô duyên gái diễm kiều

Từ hôm đó lúa ấp yêu nắng vàng

Để rồi ngày tháng díu dang

Sinh bao hạt nắng kết tràng thành bông

 

Hôm nay nắng lại lên đồng

Nhắn nhe mấy ả chưa chồng chớ cho...

 

 

THƯƠNG

 

Mắt đầm đẫm lệ mờ xa

mười năm ấy

vẫn chưa nhòa nhạt ru?

hỏi mây

mây cũng tịt mù

hỏi trời

trời lặng

hỏi thu

thu sầu

biết còn gởi nhớ về đâu

chiều thương chiếc bóng bên lầu

mưa rơi.

 


ĐỒI SIM HÔM ẤY

 

Hoa sim tím mọng lưng đồi

Một đôi cánh mỏng theo tôi rời cành

Mắt buồn ươn ướt long lanh

Ngập ngừng em hỏi rằng: - anh lạ kìa!

Bông hoa đẹp đẽ thế kia

Sao mà anh nỡ rứt lìa khỏi cây?

 

Tôi còn biết nói gì đây

Tần ngần đứng lặng, thẹn ngây cả người.

 

 

RỒI MƯA RỒI GIÓ

 

Dòng sông lặng lẽ chiều buông

Gió heo hút gợi nỗi buồn biệt ly

Thầm thương nhớ buổi phân kỳ

Hồng lên nhuốm đỏ mắt thùy dương xưa

 

Khối sầu khẳm chuyến đò đưa

Nước mây thổn thức, gió mưa nghẹn ngào

Mảnh tình dạo ấy đưa trao

Đành xin giấu kín gói vào buồng yêu

 

Rồi mưa, rồi gió muôn chiều

Vẫn đi đi giữa bao nhiêu phũ phàng

Trải dài theo sóng trường giang

Càng mưa càng gió, lại càng dâng cao.

 

 

THƠ SAY

 

Mấy vận thơ say đã gửi rồi

Mỉa mai người bảo: - viễn vông ôi!

Ừ! xin cam chịu, xin cam chịu

Bởi trót thương… đành trót dại thôi

 

Hít phải hương yêu hóa thẫn thờ

Mộng tình si lãng bốc men thơ

Vì hoa diễm lệ bao lôi cuốn

Thu hết cả  hồn gió ngẩn ngơ

 

Nắng dậy bình minh trải núi sông

Thơ say đưa bướm quyện hoa Hồng

Cầu duyên bắc nhịp xây từ đó

Ấy đấy, đâu nào có viễn vông.

 

 

 

       

           Trang Thơ TỤ VINH

                            Lên sóng lúc 20:45 ngày 03.8.2011

 

 

 

 

VU GIA TÌNH NẶNG

 

Vu Gia trìu mến của tôi ơi!

Dẫu biết hai ta chửa hẹn lời

Song tháng năm dù xa mấy nữa

Biển tình kỷ niệm vẫn không vơi

 

Thuở ấy tôi còn bé xíu xiu

Với “người ta” đã biết thương yêu

Khi bơi khi lặn say đùa sóng

Tắm ánh trăng khuya, gội nắng chiều

 

Cảnh nghèo xót nội đến rưng rưng

Cơm bữa gì hơn đĩa muối vừng

Tôi lẻn cầm cần câu tập tễnh

“Đó” thường cảm tặng rói (*) cùng dưng (**)

 

Than củi từng chia xẻ ngọt bùi

Khi thì thuyền ngược, lúc bè xuôi

Nát thân đưa đẩy nào đâu quản

Tôi đủ tôi đầy “đó” mới vui

 

Tràn dâng con lũ mớm phù sa

Cho bắp phơi chàng, đượm phấn hoa

Cho lúa sây bông oằn trĩu hạt

Vui đàn chim nhỏ rộn ê a

 

Nắng cháy cồn khô ruộng úa vàng

Nghiêng mình mạch chảy tưới lênh lang

Làm tươi thắm lại bao nguồn sống

Thơm nức hương lành mộng chứa chan

 

Bỗng ngàn bom đạn xé dòng sâu

Cát bụi bùng lên phủ đục ngầu

Thương “đó” dập dồi trên sóng máu

Giọt buồn rưng rức đẫm đêm thâu

 

Tức tưởi xa lìa bởi chiến chinh

Muôn trùng giữ vẹn mảnh hồn trinh

Triền miên giông tố luôn gầm thét

Mãi đậm trong tim một bóng hình

 

Đợi chờ khắc khoải bấy nhiêu đông

Vì “đó”... tôi chưa chuyện vợ chồng

E ấp riêng lòng đâu dám hé

Vu Gia người hỡi biết hay không?

                               Hè 1970

 

----------

(*), (**): Tên hai loại cá sông

 

 

BÊN SÔNG CHIỀU

 

Rừng thu lạnh bên sông chiều lắng đọng

Thương gọi về thầm nhớ bóng hình em

Sóng gió vần xoay, thân xác mỏi mềm

Hồn anh vẫn bên em từng giây phút

 

Chiều thơ thửng trông mây càng não nuột

Mây hững hờ theo gió hút tan đi

Ôi! nếu là mây... còn nói làm chi

Giống bội bạc, đáng gì đâu... nuối tiếc?

 

Anh đã hẹn cùng em, lòng những quyết

Nẻo đường tình mài miệt bước chung đôi

Nhẹ gót theo em...vườn mộng xanh chồi

Bỗng khựng lại trước lâu đài hoa lệ

 

Và tự nhủ: phận hèn không có thể

Kịp trăng tàn lặng lẽ ngậm ngùi xa

Mạch suối ưu tư cạn với rừng già

Rừng trầm mặc lá hoa buồn ngơ ngác

 

Khép nghẹn ngào vào lời thơ tiếng hát

Nhạc kêu sương rời rạc nghẽn đường tơ

Bên mé sông chiều bãi vắng hoang sơ

Hoàng hôn xuống đôi bờ xa chới với

 

Hố phân cách làm sao vươn tới nổi

Thôi em đừng mong đợi nữa nghe em

Lỡ thương... tựa bóng bên thềm

Mà nghe tiếng quốc đêm đêm vọng sầu.

                             Thu 1955

 

 

 

LỜI THƯƠNG CHO VỢ

 

Xuyến ơi tình đẹp đôi mình

Mây mù ập tới, bình minh nhuốm sầu

Chìm trong bão loạn mờ sâu

Thương đau dằng dặc tình đâu nhạt nhòa

 

Tội em tội biết bao là

Sóng gầm một lái, mưa sa một chèo

Kìn kìn gánh khổ đong đeo

Chông gai chẳng nệ, suối đèo bằng không

 

Mồ hôi giữ ấm độ nồng

Rợp cồn dâu biếc mướt đồng lúa xanh

Mái sương thắm nụ cười lành

Chăm vườn hạnh phúc trĩu cành ngời hoa

 

Tình mênh mông, nghĩa  hiền hòa

Đàn chim xuân nức tiếng ca ngọt ngào

Giá này mấy dễ ước ao

Ngàn muôn biển lớn non cao chưa vừa

 

 

Những câu thơ vượt qua bóng tối

 

   

      Đã hơn 30 năm trời người đàn ông ấy sống trong bóng tối. Ông không chỉ mù loà mà còn bị cụt một tay và một chân. Nhưng không vì thế tâm hồn ông cằn cỗi đi trong những ngày không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Những vần thơ được ông viết có cảm giác luôn bị giằng xé bởi sự mâu thuẫn nội tâm - giữa buồn và vui, giữa bóng tối và ánh sáng, đôi lúc có chút bi quan nhưng không hề tuyệt vọng vì thơ ông đã nói lên tất cả, cho dù cuộc đời có không may mắn thì ông vẫn là người yêu đời, yêu cuộc sống.

      Ông là Nguyễn Sư Giao – bút danh Tụ Vinh - tác giả của tập truyện thơ “Dòng sông quê hương” dài hơn 3000 câu. Tôi đọc thơ ông và biết thêm về cuộc đời éo le của ông qua người con trai, tôi càng cảm phục một tâm hồn thơ mạnh mẽ vươn lên từ bóng tối.

 

       Trong tập thơ “Dưới trăng” gồm 126 bài thơ mang nhiều sắc thái, tâm trạng khác nhau đã nói lên một khát vọng vô bờ bến là được trải lòng với quê hương, với sự sống quanh mình. Chỉ riêng cách làm thơ, ông cũng vất vả nhiều hơn so vớingười khác ở chỗ ông không thể cầm được bút viết lên giấy, mà ông phải nhớ lại để người khác chép hộ. Sinh ra ở vùng đất Quảng Nam, giờ đây ông vẫn gắn bó với mảnh đất này một phần vì yêu quê hương, một phần vì nghèo khó đeo bám suốt đời. Việc nhà cửa, con cái đều một tay người vợ đảm đang lo liệu… Cái sự nghèo đeo đẳng khiến cho tập truyện thơ “Dòng sông quê hương” đã được nhà văn Trần Thuỳ Mai – Nhà xuất bản Thuận Hoá biên tập rồi đành để đó vì không có đủ tiền in.

       Có những lúc ông đã thốt lên:

         'Đã cụt lại mù

          Hận lòng đeo đẳng kiếp chinh phu

          Đường mây héo hắt phương trời thắm

          Cầu với nhân gian một chữ phù'

       Hoặc:

          'Mắt mù nhoè nhoẹt, mặt loang sần sùi'.

 

          Nhưng rồi sự dày vò về bản thân luôn phải nhường bước cho những câu thơ đầy hy vọng, tưởng như ông chưa bao giờ phải sống trong bóng tối lâu đến vậy.

           'Thơ tôi lớn giữa bụi mờ.

            Tưởng không khẳm lá nào ngờ đơm bông'.

         Và:

            'Mềm tay chăm chuốt mướt vòm thơ xanh'

      “Điều bất hạnh đã không vùi dập nổi một trái tim khao khát được tồn tại, được hiến dâng, được chia sẻ. Những câu thơ cứ thầm lặng viết ra. Những câu thơ của Tụ Vinh đã đến, giản dị như chính cuộc đời không chút khoa trương, thấp thoáng những hạnh phúc không ngờ.” _ Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đã nói về ông như vậy.

       Có thể nói nỗi bi ai của số phận không đủ sức giết chết một trái tim trái tim tràn đầy nhựa sống của ông.

              Hoa ngát hương thơm quyện nắng hồng
              Bướm vờn lơ lửng rộn từng không

              Gió đưa gặp gỡ duyên từ ấy

              Hết hẹn lại chờ đến nhớ mong”

      Ông vẫn sống  tuy không lành lặn một cơ thể vẹn nguyên, nhưng ngọn lửa đam mê với thơ, với đời thì dường như chưa bao giờ lụi tắt.

              Đọa đày kể biết bao nhiêu
              Mặc bao nhiêu… vẫn mãi  chiều chuông thơ

        Vâng, đọc thơ ông và biết về thân phận của ông, tôi ước sao cuộc đời bớt phần nào sự đầy đủ, phần nào sự may mắn để chia sớt một phần nhỏ cho ông. Biết đâu đấy sẽ làm cho ông hạnh phúc hơn khi đang bước sang ngưỡng “ thất thập cổ lại hy”? Biết đâu sẽ giúp cho ông hoàn thành tâm nguyện gửi lại cho đời một cuốn truyện thơ dài 3456 câu với bao nhiêu khát vọng chứa chan trong đó? Và những vần thơ vượt qua bóng tối nghiệt ngã được bay xa với độc giả yêu thơ...

                                                    Nội, tháng 10 năm 2008

                                                          Thủy Hướng Dương

 .

 __________________

Tài liệu tham khảo:
- Tập thơ “Dưới trăng” _ Tụ Vinh

- Báo Tài hoa trẻ số 214, ra ngày 05. 6. 2002, trang 80.

- Báo Thừa Thiên Huế  số 128 từ 27 đến 30.6.2002).

- Báo Quảng Nam  số ra ngày 7.7.2.2002, số 1014 (4236), ngày 27, tháng 5, Nhâm Ngọ).