Trang Chủ‎ > ‎Đò Dọc‎ > ‎

TƯỜNG LINH: Quê hương bao thương mấy nhớ ?!

 
 
 
 
 
 
 
ĐI GIỮA ĐÔI BỜ

Tôi về, thuyền ngược nước sông Thu
Thăm thẳm nguồn xa, núi mịt mù
Mưa vẫn còn mưa, chiều vẫn lạnh
Đôi bờ hiu hắt, bãi hoang vu

Đứng lặng trong mưa Vĩnh Điện buồn
Chân cầu trắng xóa nước sông tuôn
Thuyền lên mắt nuối bờ sông khuất
Cổ tháp Bằng An lạnh lẽo hồn

Qua nhánh sông này, mưa, vẫn mưa
Có gì khơi lại nỗi niềm xưa
Tình ơi, Giao Thủy hai nguồn nước
Gặp gỡ nhau sao chẳng đợi chờ?

Bến mộng Gia Hòa xanh ngát dâu
Áo tơ vàng cũ biết tìm đâu
Con đường dương liễu reo ngày trước
Dương liễu chiều nay vọng nhạc sầu

Núi điệp trùng vây, quê ta ơi!
Về đây người lại nhớ nhung người
Chợ chiều Trung Phước mờ sương khói
Dâu biển bao nhiêu lắm đổi dời!

Mai sớm tôi đi, thuyền xuôi dòng
Đôi bờ, xin gửi chút thương mong
Quê hương chớ gọi tôi là khách
Bài độc hành ca viết chửa xong.

Quê nhà, 9-9-1964


 
HỒN SÁCH CŨ

 

Ngọn đèn khuya rọi từng trang sách cũ
Lại ngậm ngùi theo những ý tình xưa
Vòm cô tịch gieo rã rời tiếng vạc
Điểm thêm buồn, vườn rớt hạt mưa thưa
Lần lối chữ gặp tiền nhân, ta khóc
Khóc văn chương, lệ chảy ngược về trong
Hướng hòai niệm mờ rêu thiên cổ mọc
Điệu thanh bình chờ mỏi cánh thu phong
...


Giọt nước mắt ẩn trời đau chiến quốc
Thành giọt-buồn-nhân-thế, mãi không tan
Có pha máu bao đời người đổ xuống
Hành tinh thêm thiên niên kỷ võ vàng
Hởi sóng Mịch La, áo xanh Tư Mã
Giọt tỳ bà gây lạnh nước Tầm Dương
Hỡi thi bá thuở thịnh Đường tráng lệ
Sao thơ thần chỉ hái ở tang thương

Nhắm mắt lại thấy Nguyễn Du tư lự
Bên Thúy Kiều ủ dột nét xuân sơn
Về chịu cảnh “vô gia, huynh đệ tán”
Với Tiền Đường, sánh thử nghiệp nào hơn
Trang sách cũ cho người nay hạnh kiến
Bao người xưa dẫu bặt dấu hài xưa
Máu và lệ, đau với buồn chẳng khác
Theo cõi người khó tạnh cõi thơ mưa 

 
 
MÂY SỚM HẢI VÂN

 

Không rõ nét một nơi nào đã nhớ
Và cũng không tròn bóng dáng để quên
Khi có một chốn biển trời rộng mở
Say sưa nhìn mây sớm mãi dâng lên
Cửa ải xưa là nơi nào đấy nhỉ
Phải chăng triền gió thốc, suối phun tia?
...
Thuở trạm ngựa vó băm đường thiên lý
Hẳn ngại ngùng bên mé vực sâu kia


Mây lãng đãng qua rừng buông cánh thấp
Choàng áo màu tuyết nhẹ xuống hàng cây
Biển Đông thả gió vào chưa đủ cấp
Giữ bình yên cho lũng tiếp đong mây
Buồm xa tít, sóng viền ghềnh lượn trắng
Biển dày công tạc dũa những ngàn năm
Những nghìn năm với sớm mai phớt nắng
Với đêm dài thao thức hải triều âm...
Chưa nghe hết lời đại ngàn kể lể
Mùa chiến chinh đá dội tiếng quân reo
Biệt Hải Vân, đi tiếp về với Huế
Mây vươn tầm như gởi luyến lưu theo.


CHIỀU GIÓ THÁNG NĂM

Người gửi vào tôi cánh hoa phượng ép
Hoa phượng cuối mùa xứ Huế xa xăm
Người gửi vào tôi chiều gió tháng Năm
Đường Thành Nội hoa phơi từng chấm máu

Và người bảo: người rắc hoa làm dấu
Hoa đưa đường chờ "Trọng Thủy" về thăm.
Hoa gọi tôi về chiều gió tháng Năm
Gió ray rứt, nắng ôm bờ nước cũ


Vì thuở đó còn run lời tự thú
Nên lá đò không chở lá thư sang
Trên cành xanh hoa cứ nở cứ tàn
Đời quanh quẩn khung sân trường cổ kính


Gác "hàn sĩ" chứa rất nghèo dự tính
Dẫu mộng tràn hương tóc đẫm chiều hoa
Định mệnh thường quên chưa rõ: chia xa
Buồn ly biệt đau nếp khăn, tà áo


Người cầu nguyện phương trời thôi gió bão
Tôi bình yên - lặng lẽ biết ơn người
Mộng trở về lay giấc tuổi hai mươi
Gặp mắt biếc lộng màu thu Vỹ Dạ


Đêm Phu Văn Lâu thuyền trăng, bóng lá
Bướm vườn khuya thao thức mấy canh sương
Hoa máu ngày xưa còn rụng đầy đường
Người gửi cho tôi đúng màu thương nhớ


Có phải hồn hoa hay người nức nở
Ôi con đường tẻ lạnh mắt đăm đăm...
Tôi sẽ về thăm chiều gió tháng Năm
Theo dấu hoa rơi trên đường Thành Nội


Sao về muộn? Tôi biết người sẽ hỏi
Như biết mình sẽ nhận cánh hoa khô.



MÂY CỐ QUẬN

 

Dừng lại quán lưng đèo uống rượu

Một mình đối mặt với non cao


Khói dâng lũng thấp, sườn mây nhạt


Tiếng suối xa reo, phải núi chào?


 


Vươn cánh đại ngàn chạm trắng mây


Quần sơn, thạch trận vẫn bày đây


Không là tráng sĩ hồi nguyên quán


Rượu đón, đèo xưa chén mãi đầy


 


Ngứa tay, đâu có gươm mà vỗ


Bi tráng... phân vân tiếng khóc cười


Vó ngựa ruổi qua thời lửa rực


Không còn về với tuổi đôi mươi


 


Chủ quán! Rót riêng ly rượu mới


Để ta mời núi luận anh hùng


Núi im, chẳng lẽ mình ta luận?


Lại uống mà suy chuyện thủy chung


 


Mây lượn ngang đèo sang hướng tây


Hướng tây mẹ đợi vóc hao gầy


Lời kinh khuya nuối liềm trăng khuyết


Tuổi hạc nghe tường ý cỏ cây


 


Cố quận ngày về ta với ta


Đèo cao nắng hửng phía quê nhà


Uống thêm ly nữa và đi tiếp


Rượu bốc lời thơ gởi gió xa


 
 
 
NGHÌN SAU NƯỚC MẮT
 
 
Em làm hỏng một bài thơ
Ðò ngang gác mái bên bờ sông mưa
Tiếng gà lay vắng thôn trưa
Nhớ xao mặt sóng, buồn đưa vào hồn
Sông quanh bèo dạt qua cồn
Lạnh trùm quán bến, mưa dồn bãi xa

Em làm hỏng một bài ca
Liễu hồ xưa úa theo tà áo xưa
Một cung nối mãi âm thừa
Trái ngang tiết điệu lại vừa bốn cung!
Đàn buông một tiếng tơ chùng
Xốn xang tiếng nấc cả vùng biển đau!

Ta làm hỏng một đời nhau
Rêu phong nét đá dàu dàu trăng soi


            Trang Thơ TƯỜNG LINH
                                 Lên sóng 12:00 / 30.6.2011

 




 
 
 
 
 
 
Nhà thơ TƯỜNG LINH
  
Gần 50 năm trước, có một cậu học trò xứ Quảng mới bước chân vào bậc trung học, đã say mê đến thuộc lòng bài thơ “Nhắn hoàng thành có người Tôn nữ” của Tường Linh. Duyên thơ lạ lùng, cách đây hai năm, trong một buổi họp mặt văn nghệ tại TP. Hồ Chí Minh, có mặt nhà thơ Tường Linh, cậu học trò xứ Quảng ngày xưa nay đã ở tuổi 60 đọc lại bài thơ ấy để “tặng” chính tác giả. Cảm động, hai ngày sau nhà thơ đã gửi tặng người thuộc thơ mình sau gần nửa thế kỷ bài thơ tình nổi tiếng kia. Và cũng chính vì thế mà người yêu thơ lại phải dày công viết cho nhà thơ một lá thư dài hơn ba trang giấy khổ lớn để “bênh vực” và quyết liệt - bằng nhiều phân tích văn học - “đòi” nhà thơ Tường Linh phải giữ lại hai câu thơ trong bản in cũ, vì không hiểu sao nhà thơ lại sửa mất hai câu thơ xưa. Có lẽ lại thêm một lần cảm động, nhà thơ Tường Linh đã chiều lòng kẻ yêu thơ không dễ tính kia.

Trước sau, tôi vẫn nghiệm ra một điều, những bài thơ hay nhất của Tường Linh bao giờ cũng gắn liền với một câu chuyện thơ; từ những bài thơ nổi tiếng viết về quê hương Quảng Nam như “Năm cụm núi quê hương”, “Hai miền nhớ”… cho đến những bài thơ tình man mác, ngậm ngùi như “Nhắn hoàng thành có người Tôn nữ”, “Mai trắng, mai vàng”, “Ngọn đèn”… đều là những chuyện thơ cảm động. Phải chăng điều đó cũng nằm trong mạch nguồn của thi ca dân tộc, vì ta đừng quên rằng, trong lịch sử văn học Việt Nam, những áng thơ nổi tiếng và được yêu chuộng nhất đều là những chuyện kể bằng thơ.Với riêng tôi, trong tình yêu dành cho thơ Tường Linh, bao giờ tôi cũng muốn khẳng định: Thơ Tường Linh đi ra từ gốc rạ, để cuối cùng quay về lại với gốc rạ, trở thành máu thịt của quê hương.
 
Tần Hoài Dạ Vũ  - (baoquangnam.com.vn)


NHẮN HOÀNG THÀNH CÓ NGƯỜI TÔN NỮ


Hôm qua có người quen về Huế
đi chuyến tàu đêm
ga buồn, mưa nặng
anh nghĩ về em nhưng không gì gửi tặng
còn rất nhiều sầu đâu nỡ gửi cho em

Chừ còn gì đâu gửi ra Huế nữa
mất hết từ ngày đi
mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ
đường ra như có lắm biên thùy!

Vì biết sẽ buồn
nên ngày xưa anh không hứa hẹn
vì giông tố nên thuyền không cập bến
vì em là chim hót giữa hoàng thành
vì anh là mây trời còn luyến chiều xanh

Không cho gì nhau
mà chừ phải trả
hãy trả cho anh nghìn khuya sầu
nghìn lần tìm em trong mộng biếc đêm sâu

Anh trả lại em cả kinh thành mưa bụi
mưa mờ dáng trúc Kim Long
mưa rắc lệ cho Nam Giao buồn tủi
vườn Nguyễn Hoàng hoa chẳng nở chiều đông

Làm sao trả công em
mấy mùa phượng nở
mấy thuở phượng tàn
mấy độ hoa rơi khắp đường Thành Nội
tính tháng tính năm
xuân biếc, thu vàng...

Có đòi lắm cũng khó bề trả được
không chứng nhân mà không thể chối từ
nếu duyên số đa đoan từ kiếp trước
thì kiếp này anh vẫn vụng đường tu.

Còn gì nữa
dù không đòi, không trả
không hỏi về: em có đợi trông anh?
chân trời cũ, anh trở thành khách lạ
làm phế vương để được nhớ hoàng thành

Xưa thắc mắc chính là đây em nhé!
màu thời gian nhuộm tím ước mơ rồi
em có khóc, dặm ngàn anh biết thế
kiếp độc hành không thể bước chung đôi.

Phương Nam, 1959


 
CỔ TỰ

 

 
Con quỳ trước điện nghe kinh
Nhỏ nhoi một chấm nhân sinh tìm về
Mịt mù Tây Trúc cội quê
Thì xin quét lá bồ đề tịnh viên

Bồng lai nước yếu ngăn thuyền
Đành mang áo vá trích tiên cõi người
Thơ nghiêng phía khóc hơn cười
Buồn Chân, níu Ảo buốt mười ngón tay!

Con về góp khói hương bay
Chờ chuông cổ tự cuối ngày vọng thanh
Và quên, dù bại hay thành
Còn đêm đầy gió trăng lành xưa sau

Bụi trần hạt khổ, hạt đau
Hạt thinh lặng ghép theo màu thời gian
Sông mê bờ ngập, sóng tràn
Lời kinh chở ý đạo vàng gọi ai


 
KHÚC CA QUY ẨN
 

Bạch diện qua rồi, vẫn trắng tay
Thư sinh buổi trước, gã cuồng nay
Lạc đường quay ngựa, vương tình bút
Xa ruộng, lìa quê, nhớ luống cày ....
Ðọc sách nửa đời chưa sáng ý
Bão bùng tơi tả cánh mơ bay
Nghìn câu nguyện ước tan theo mộng
Ráng đỏ mây phai nắng cuối ngày
Hiên vắng ta ngồi đêm nguyệt tận
Mắt buồn người hiện giữa cơn say

Khúc thu người tiễn ta chiều cũ
Dương liễu đầu sông lá rụng đầy
Không chén trường đình mà lảo đảo
Không màng sự nghiệp cũng ngây ngây
Sông Thu nào phải là sông Dịch
Hai phía thầm đau nhạn lạc bầy

Ta đã hẹn người ngày tái kiến
Hội Xuân đời ghép hội rồng mây
Người không còn nữa, ta phiêu dạt
Trở lại còn ai gặp nữa đây ?
Quê cũ, cổng làng ai đứng đợi ?
Chiều Xuân lạnh chiếu rượu xuân bày
Sông xưa lở cả đôi bờ đẹp
Hoang vắng, đò thôi cập bến này
Trời mênh mông quá, vô tình quá !
Không hận nhưng lòng tiếc lắm thay !
Vốn nặng cưu mang tình cố lý
Về nhìn hiên cúc gió thu lay
Ta ngâm khe khẽ bài tương biệt
Người trách thầm qua nét nhíu mày
Nhân ảnh mờ chìm trong đáy cốc
Rượu chiều sóng sánh bởi heo may
Ta chờ nghe tiếng thân thương cũ
Người gửi riêng ta thuở đọa đày

Chiều bỗng tuôn mưa, trời nổi sấm
Chén buồn còn lại chất men cay
Bóng người mãi mãi là hư ảnh
Mưa suốt đêm trường, gió lạnh vây
Rượu rót chờ người không hiện nữa
Bài thơ chiêu niệm ý hao gầy

Cố nhân ! Ta gọi tên bằng hữu
Vạn nẻo trầm luân mất dấu giày
Ta ngó lên nguồn, trông xuống biển
Hỏi cùng nam bắc, hỏi đông tây ...
Lặng im xẻ nghé tan đàn hết !
Tiếp những mười năm hẹn đã chầy
Mồ bạn lạc loài bao cõi lạ
Nén hương chưa đốt tỏ lòng này
Tri âm, tri kỷ như sao sớm
Chút nghĩa kim bằng cũng hiếm thay !

Cuối cuộc viễn hành đơn độc quá
Bơ phờ cánh hạc khép đường bay
Gẫm bao chí lớn trong thiên hạ
Chẳng được còn xanh với cỏ cây

Thì ta một chấm nhân sinh nhỏ
Mong mỏi gì hơn ở kiếp này ?
Cũng chẳng tính chi còn với mất
Càng không than vãn chuyện riêng tây
Ðàn xưa trỗi lại bài lưu thủy
Lắm nỗi niềm trao với nước mây
Khúc ca quy ẩn đưa xa nhịp
Khắc nét đời thơ chiếc bóng gầy
Vang mãi dư âm triều hệ lụy
Thơ chào tuyệt tích gửi ai đây ?

Tân Tỵ 2001
 
 
BỐI CẢNH


                 tặng Cuồng Vũ


Một mình ta uống rượu
trời nghiêng nghiêng mưa thưa
nhẩm từng tên bằng hữu
mất nhiều khuôn mặt xưa

Ta lặng yên từ buổi
lảo đảo lìa chiến trường
ngựa què lê bước mỏi
khó trọn chuyến hành hương

Em qua mùa sầu mộng
ta khép trời say mê
dại khờ nên ước vọng
xóa nhau hộ lời thề

Hơn một lần quay mặt
đổ cho ai bây giờ
làm sao ta dám chắc
em lạnh lùng trong mơ

Tình ơi ngoan giấc ngủ
hồn giật nhánh sông xa
trăng chưa vàng ngõ cũ
sầu rơi theo mưa sa