Trang Chủ‎ > ‎Dòng Đời‎ > ‎

Phim tư liệu: NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẴNG

 
  Một góc TP Đà Nẵng xưa (trước 1975)
 
 
“Người con gái Đà Nẵng” (The daughter from Da Nang) là tựa đề cuốn phim tài liệu dài khoảng 80 phút của hai đạo diễn Gail Dolgin and Vicente Franco. Phim nói tiếng Anh và tiếng Việt với phụ đề Anh ngữ do PBS phát hành vào đầu năm 2002.

 
“Daughter from Đà Nẵng” đã được đề nghị lãnh giải Oscar và đã đoạt khá nhiều giải nhất phim tài liệu tại các đại hội điện ảnh khắp Hoà Kỳ trong năm 2002 (Sundance, San Francisco International, Ojai, Durango – Colorado, Texas, New Jersey International, Nashville, Cleveland).

“Daughter from Đà Nẵng” xoay quanh chuyện đời của Heidi Bub và chuyến đi tìm mẹ ruột sau 22 năm không gặp.

Heidi Bub sinh năm 1968 tại Đà Nẵng con bà Mai Thị Kim và một chiến binh Mỹ. Chồng của bà Kim là Đỗ Hữu Vinh, từ năm 1964 đã, bỏ vợ và ba con ở lại Đà Nẵng, nhảy núi theo Cộng sản đánh Mỹ.

Vào những ngày sau cùng trước khi đồng minh của miền Nam Việt Nam chuẩn bị tháo chạy, chính phủ Mỹ đã bỏ 2 triệu đô-la mở chiến dịch “Di tản trẻ thơ” (Operation Babylift) đưa khoảng 2 đến 3 ngàn trẻ “mồ côi” từ Việt Nam sang Mỹ, Canada, Pháp, Úc để làm con nuôi. Thật ra, môt số trong những trẻ em hai dòng máu đó có gia đình. Cuộc di tản trẻ thơ bắt đầu ngày 4 tháng Tư bằng một máy bay CA-5 Galaxy, đã rơi 12 phút sau khi cất cánh rời Tân Sơn Nhất. Chỉ còn 175 trong số 328 em bé trong chuyến bay đó sống sót.

Sang tới Mỹ, Hiệp, lúc đó 7 tuổi, được bà Ann Neville ở Columbia, South Carolina, một phụ nữ độc thân nhận làm con nuôi. Nhận một đứa trẻ da màu làm con nuôi, một khái niệm rất xa lạ với người Mỹ miền nam, cũng là một các sốc lớn cho gia đình bà Neville vì tại Mỹ cũng có rất nhiều trẻ cần được chăm sóc, nuôi nấng. Nguyên nhân đơn giản là những người độc thân như bà Neville rất khó xin trẻ tại Mỹ làm con nuôi. Sau một năm ở South Carolina, hai mẹ con Heidi dọn về sinh sống tại Pulaski, Tennessee – thánh địa của Klu Klax Klan, tổ chức kỳ thị cực đoan hàng đầu ở miền Nam nước Mỹ.

Bà Neville che dấu nguồn gốc và làm cho Heidi “101% như Mỹ” để che chở con mình. Ann Neville là khoa trưởng ở một Đại học tại Pulaski. Về mặt vật chất, Heidi không phải là thiếu nữ thiếu thốn so với đa số dân địa phương; tuy nhiên, đời sống tinh thần của Hedi và mẹ nuôi rất khô cằn, thiếu hẳn những bộc lộ tình cảm mẹ con. Heidi cho rằng Ann đem mình về nuôi để đúc nặn thành một con người bà có thể chia sẻ sau này. Với Heidi, bà Neville là một người mẹ quá nghiêm khắc. Sau cùng Heidi bị mẹ nuôi đuổi ra khỏi nhà, không lời giải thích tại sao.

Bảy tuổi, đầu óc trẻ thơ, Heidi nghĩ rằng vì mình là con không ngoan nên bị mẹ bỏ đi. Gần hai mươi tuổi, Heidi lại bị mẹ nuôi đuổi đi và không nhận là con. Cô mang nặng mặc cảm rằng mình có lẽ là người tệ hại lắm nên mới mất mẹ đến hai lần.

Vài năm sau, lúc khoảng 21-22 tuổi, Heidi bắt đầu đi tìm mẹ ruột. Sau đó không lâu, năm 1991, ở Việt Nam bà Kim cũng đã có ý tìm lại đứa con đã cho đi thời chiến bằng một lá thư gởi cho viên chức Mỹ ở Sài Gòn. Heidi tìm được tung tích mẹ ruột cũng nhờ lá thư đó sau cùng đã vào tủ hồ sơ của tổ chức tìm trẻ cho làm con nuôi Holt, cơ quan đã đưa Heidi đi làm con của bà Ann Neville vào năm 1975.

Năm 1977, Heidi về lại Việt Nam sau 22 năm vắng mặt. Đi cùng là ký giả Trần Tương Như, người Việt Nam đầu tiên Heidi được tiếp xúc tại Hoa Kỳ.

Đoạn phim về chuyến bay trở lại, Heidi và bà Kim thay nhau kể lại kỷ niệm này xa cách nhau 22 năm trước đó. Với Heidi vẫn là hình ảnh chiến tranh. Bên cạnh, ký giả Tương Như, cho Heidi một vài khái niệm về người Mẹ – không cùng ngôn ngữ – mà Heidi đã 22 năm không gặp, và có thể xem là không biết. Là phim tài liệu, tất cả đều là người thật với những cảm xúc thật. Đi cùng để giúp Heidi tìm lại mẹ, ký giả Tương Như dường như cũng lây niềm cảm xúc sôi nổi, lạc quan về câu chuyện hai mẹ con sắp được những giây phút hạnh phúc của ngày đoàn tụ mà bà gọi là “một kết thúc thơ mộng” (a poetic ending).
 

Gặp lại mẹ, các anh chị cùng mẹ và gia đình tại sân bay Đà Nẵng ấn tượng đầu tiên của phụ nữ ngưỡi Mỹ này là gia đình của mẹ ruột có quá nhiều tình cảm, thương yêu và đoàn kết dù họ là những người không đủ về mặt vật chất. Ngoài những sinh hoạt thường thấy của bất kỳ cuộc hội ngộ nào như những buổi hãnh diện đưa khách (trường hợp này là con gái) trong những buổi đi thăm chòm xóm, đi chợ, những bữa cơm đại gia đình; chỉ vài ngày sau, Heidi đã cảm thấy những khó chịu vì sự khác biệt văn hoá, biên giới riêng tư của người con Mỹ đã bị tình cảm “mẹ con” của bà mẹ Việt Nam xâm phạm. Với bà Kim, nằm cùng giường ngủ tâm sự thâu đêm với con gái là và không muốn một phút rời con (mới về thăm) là chuyện thường tình; nhưng với con bà thì đó lại là một cảm giác bị lấn át vào không gian cá nhân. Heidi không có được thời gian riêng cho mình tiêu hoá và suy nghĩ về những sự việc quá mới, quá xa lạ, lần đầu trong đời cô phải đối diện.
 
 
NGUỒN: FXgioan / khiemloi  (không thấy ghi tên tác giả bài viết này?!)
 
GHI THÊM:
 
Rất tình cờ vào đầu tháng tư năm 2011, tôi xem được bộ phim này trên trang mạng giao lưu của nhóm bạn học cũ. Đây là phim tư liệu, mọi chi tiết trong phim được diễn ra rất tự nhiên, rất thật và cảm động... Có một cảnh ở phần gần cuối phim khiến tôi cảm thấy ái ngại và thương cảm cho cô gái lai (cha Mỹ-mẹ Việt) sau 22 năm mới gặp lại mẹ ruột và các anh chị em cùng mẹ khác cha... Không biết suy nghĩ gì mà một người anh của cô gái,  ( sau 22 năm lưu lạc, em gái mới về thăm lần đầu) lại đặt ra yêu cầu em gái bảo lãnh mẹ qua Mỹ và trợ cấp nuôi mẹ; thật là thiếu tế nhị ! Ông anh nói tiếng Việt, qua phiên dịch,  khi hiểu điều ông anh nói, cô gái bị Shock, rấm rức khóc bỏ chạy ra ngoài... Hết phim, tôi vẫn còn thắc mắc: không biết cô ấy có còn quay về Đà Nẵng lần thứ hai nữa không? Chiến tranh đã góp phần tạo nên bao số phận kỳ lạ éo le, khó lý giải... Cô gái lai Đà Nẵng này chỉ là một ví dụ trong ngàn, triệu số phận tương tự... Rất tiếc ST chưa tải phim này lên được để các bạn cùng xem!   -NVT