Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

Bâng khuâng theo chút NẮNG TRÊN ĐỒI - Ng.Thanh Tuấn

 

Tập thơ thứ 3 của nhà thơ NGUYỄN NHO KHIÊM - NXB Đà Nẵng 2012 

 

BÂNG KHUÂNG THEO CHÚT NẮNG TRÊN ĐỒI

NGUYỄN THANH TUẤN

 

         Tự bao giờ Nguyễn Nho Khiêm “và thơ sống với nhau như duyên trời, như số phận. Có lúc hạnh phúc vô bờ, có lúc khổ đau cùng tận”(Nguyễn Nho Khiêm). Cứ thế, anh bồng bềnh trong “Thơ như sương khói” rồi cất bước “Lãng du bên ngoài cánh đồng” và bây giờ đứng lặng để “Bâng khuân theo chút nắng trên đồi” cỏ non.

 

 

“Em vẽ hoàng hôn cánh đồng chiều gốc rạ lúa sinh khôn

Con cá rô quẫy dấu bàn chân trên cánh đồng tháng ba thơm cỏ

             Giọt mồ hôi mẹ bay lên thành những đám mây chở ước mơ của

                           anh bay qua bầu trời xanh biếc cơn mưa

Mưa thấm vào câu ca dao đồng cạn, đồng sâu, bến sông bồi lở.

 

Em vẽ bầy chuồn chuồn bay về từ tuổi ấu thơ

Cánh đồng tràn ra khỏi khung tranh rạt rào gió,

        làn gió nâu thổi dọc lũy tre;

              cánh diều căng hun hút khát khao bầu trời trong ánh mắt”.

                                                                               (Trước bức tranh đồng chiều)

 

Có thể khẳng định rằng Nguyễn Nho Khiêm không ham kiếm tìm ngôn ngữ mới, không kiến tạo những hình ảnh lạ mà đi sâu vào thế giới nội tâm bằng tất cả những gì gần gũi, thân thương để khai thác tận cùng nguồn cảm xúc luôn trào dâng, tạo ra thứ thơ tự do đến mức “phóng túng hình hài”. Các câu thơ được đẩy theo trục dọc và trượt dài cùng dòng cảm xúc, hình thành thế lệch chuẩn với những câu thơ cách luật cổ điển… Nhà thơ đem họa hòa quện vào thơ tạo cho người đọc chút bâng khuâng, chút tò mò và phấn khích để có thể cùng Nguyễn Nho Khiêm phiêu bồng trong thế giới thơ anh. Theo từng nét “vẽ hoàng hôn cánh đồng chiều gốc rạ lúa sinh khôn”, “vẽ bầy chuồn chuồn bay về từ tuổi ấu thơ” mà hồn người cùng “Cánh đồng tràn ra khỏi khung tranh rạt rào gió, làn gió nâu thổi dọc lũy tre; cánh diều căng hun hút khát khao bầu trời trong ánh mắt” để trở về thủa lên năm lên ba sau một chuyến phiêu bạt hơn hai mươi năm trên phố lạ nhà cao, thiếu vắng tiếng ru hời…

 

“Ô, ta tuổi năm mười rồi ư, sống ở thành phố 20 năm mà đám mây

                 trên cánh đồng nụ cười mẹ cứ bay về quấn quýt thịt da

Sao lồng ngực như ống sáo dưới cánh diều ngân vang trong hơi thở  

       của em, trên hơi sương bình minh triền dâu, bãi bắp ven sông”.

                                                                                   (Trước bức tranh đồng chiều)

 

Thế mới biết quê hương giản dị với “Con cá rô quẫy dấu bàn chân trên cánh đồng tháng ba thơm cỏ/ Giọt mồ hôi mẹ bay lên thành những đám mây chở ước mơ của anh bay qua bầu trời xanh biếc cơn mưa” mà có sức hồi sinh mạnh mẽ. Ta phiêu bạt giữa đời, bị đời xô đẩy đến nhàu nát, già nua và chỉ còn cách quay trở về tựa lưng vào quê hương nghe tim mình hồi sinh trở lại. Với xu hướng duy cảm và hướng nội, thơ Nguyễn Nho Khiêm phá vỡ đại tự sự mở ra một lối đi riêng vào thế giới đời sống cá nhân với những lo toan đời thường.

 

Ngày nào cũng tíu tít

Chân đi không bén gót

Anh vừa lau nhà xong

Gió bụi lại thổi về

Hai mươi năm anh lau mãi căn nhà không sạch.

                                                                                    (Mưa nắng)

 

          Với sự bừng tỉnh ý thức cá nhân và cảm thức về sự hủy diệt của thời gian, Nguyễn Nho Khiêm nhận ra rằng cuộc sống “Ngày nào cũng tíu tít/ Chân đi không bén gót” nhưng vẫn không có cách nào thoát khỏi bước đi thâm độc của bụi thời gian. Thời gian lạnh lùng đi qua và nhẫn tâm lấy đi tất cả... Nguyễn Nho Khiêm chống lại bước chân hủy diệt của thời gian bằng cách tìm về với tình yêu, mong tình yêu là cứu cánh duy nhất của con người trong cuộc chiến chống lại thời gian.

 

“Anh muốn cùng em đi dọc bờ biển

 mặc sóng xóa những dấu chân qua

để thấy cuộc sống thật ngắn ngủi và tình yêu vô cùng

để quên đi những điều vặt vãnh”.

                                       (Tìm lại mùa xuân)

 

Quên đi thời gian, xem thời gia là một yếu tố vô can với đời sống con người để “cùng em đi dọc bờ biển”, “để thấy cuộc sống thật ngắn ngủi và tình yêu vô cùng”. Nhà thơ cứ nghĩ chỉ có tình yêu là vĩnh cửu còn mọi thứ “đều vặt vãng” nhưng cũng chính nhà thơ phát hiện ra cuộc sống con người “thật ngắn ngủi” vậy tình yêu có còn tồn tại khi con người đã mất? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, Nguyễn Nho Khiêm hốt hoảng nhận ra rằng tình yêu chưa bao giờ và không bao giờ là giải pháp cho cuộc chiến chống lại bước đi thâm độc của thời gian.

 

“Bây giờ tuổi tám mươi ba

Cha tôi ngồi ngắm tuổi già thương con

Không gian sắc, thời gian mòn

Bước đi dò dẫm biết còn bao lâu”?

                                                                     (Nhìn cha)

 

Dẫu không quan tâm, không để ý đến thời gian nhưng nó vẫn âm thầm hủy diệt, âm thầm cướp đi tuổi xuân của con người. Khi nhìn tuổi già ập đến, Khiêm mới sững sờ vì thời gian đã đẩy cha mình về phía già nua và cái chết không được báo trước “Bước đi dò dẫm biết còn bao lâu”. Biết giới hạn và kết cục thê thảm của con người trước thời gian nhưng anh vẫn không cúi đầu khuất phục mà tiếp tục nỗ lực để rồi lại thêm một lần nữa đau đớn trước sự phủ phàng của thời gian.

 

“Đêm rộng quá và ngày dài quá

Bốn phía đời sa mạc bủa vây

Trời đất hỡi tôi chẳng là tượng đá

Tình mỏng manh xơ xác rụng đầy tay.

 

Vết thương lòng lại tấy lên lần nữa

Khi em vội vàng quên hết ngày xưa

Ngày ta đốt thời gian nhóm lửa

Sưởi tình yêu đi suốt rừng mưa”.

                                                          (Vết thương)

 

Thơ Nguyễn Nho Khiêm tràn ngập biểu tượng nhưng nhiều nhất là những biểu tượng có khả năng chống cự lại bước đi của thời gian như: sa mạc, đá, lửa, sông, đồi… Nhà thơ không mô tả khách quan hay trình bày cảm xúc một cách trực tiếp mà biểu hiện nó thông qua hệ thống biểu tượng. Biểu tượng trong thơ anh mang ý nghĩa phổ quát cao, chúng bắt đầu từ chủ thể bằng những cảm nhận rất riêng của anh nên nó không còn điểm tựa ở thế giới hiện thực mà hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm và trí tưởng tượng của chính Nguyễn Nho Khiêm.  “Đêm” và “ngày” trở thành hiện thân cụ thể cho không gian và thời gian - hai chiều cơ bản của thế giới 3D rợn ngợp. Đây là những khúc đoạn ngắn ngủi được phân chia theo tâm thức của một tâm hồn bị ám ảnh dai dẳng bởi thời gian. Tất cả bị nhấn chìm trong mỗi cô đơn, hang vắng “Bốn phía đời sa mạc bủa vây”. Khiêm đớn đau, Khiêm nuối tiếc, Khiêm vô vọng “Trời đất hỡi tôi chẳng là tượng đá” để “Vết thương lòng lại tấy lên lần nữa” khiến nỗi đau ào ạt ùa đến .

 

“Người đàn ông hai tay ôm mặt

nấc lên

biển không còn sóng

bầu trời thẫm đen

gió xuân chìm trong lá”.

                                                      (Người đàn ông khóc)

 

Sống trên đời này, có người may mắn được nếm chút hương vị hạnh phúc, có người trải chút ngọt ngào yêu thương, có người thưởng chút đắm say ân ái… Nhà thơ họ Nguyễn này thì khác, bắt đầu bằng sự trong sáng tinh khôi đến chút bâng khuân theo nắng, gió, mây, trời… và bây giờ là nỗi đớn đau quặn lòng. Đất trời như sụp đổ, mọi lẽ sống tiêu tan, tất cả chỉ còn lại một “bầu trời thẫm đen”. Đây là bi kịch đau đớn và tuyệt vọng nhất trong đời người thơ. Tưởng rằng trước mắt chỉ còn một lựa chọn cuối cùng và duy nhất là cái chết nhưng không, anh đã mạnh mẽ đấu tranh để chiến thắng và tìm ra giải pháp hữu hiệu…

 

“Những hòn đá nô đùa cùng biển xanh ngoài kia

                                                                   là bạn tôi      

là bạn nghìn năn trước      

mãi là bạn ngàn sau  

lúc buồn đến với đá    

lúc vui đến với đá 

chúng tôi chơi với nhau không ai nói gì          

mà hiểu từng ngọn gió, giọt sương”.

                                    (Viết dưới chân núi Sơn Trà)

 

Kết bạn với đá là cách làm thông minh nhất, hiệu quả nhất để chống lại mọi giới hạn về thời gian và không gian của con người. Tìm đến với đá là phương thức duy nhất có thể từ bỏ cái hữu hạn để tìm đến với cái vô hạn và tồn tại vĩnh viễn với tạo hóa. Bằng thủ pháp tiểu đối mà mọi giới hạn không-thời gian và cả cái chết bị phá bỏ: “ngàn năm trước”><”ngàn năm sau”, “lúc buồn”><“lúc vui”, “không nói gì”>< “hiểu từng ngọn gió, giọt sương” tác giả tạo cho thơ những nét duyên dáng, mềm mại và e ấp… Đồng thời, biểu hiện hiệu quả mối tình thiên thu giữa Khiêm và đá.

“Nắng gieo hạt nẩy mầm tươi

Cỏ xanh theo gót chân người nắng mai

Đầu trần nắng trải hai vai

Gió đồng quấn quýt một ngày nhẹ tênh.

 

Này chim dồng dộc bay lên

Lá xanh đan võng ru trên nhánh cành

Hỡi chim, này, cỏ rất xanh

Tha lên làm tổ hót quanh vòm trời.

                                                             (Với cỏ)

 

Hơi thơ nồng nàn, giọng thơ say đắm, nhịp thơ đều đặn, nhạc thơ du dương, các hình ảnh thơ tươi trẻ, tràn đầy sức sống và phơi phới niềm tin. Nguyễn Nho Khiêm náo nức, khoe khoang với người đọc những món quà thiên nhiên ban tặng và những vẻ đẹp trần thế. Dưới con mắt trẻ thơ của thi sĩ thiên nhiên hiện ra lấp lóa vẻ đẹp ba tầng. Tầng một, ống kính thơ hạ xuống thấp đưa ta về với những vạt nắng lung linh trên đầu lá cỏ. Nắng có vai trò làm bật dậy một sức sống mới cho đời, cho thiên nhiên và cho thơ “Nắng gieo hạt nẩy mầm tươi/ Cỏ xanh theo gót chân người nắng mai”. Nắng thắp những hạt sương ban mai đậu trên đầu lá cỏ phát sáng lung linh, mỗi giọt sương là một tiểu hành tinh quyến rũ. Sự sống và màu xanh tràn ra vô tận theo bước chân người đi, bước chân hồi sinh sau khi đi qua “bầu trời thẫm đen”. Tầng hai, ống kính thơ nâng lên độ cao trung bình để chụp lấy hình ảnh của con người trong mối tương giao hài hòa với thiên nhiên đồng nội “Đầu trần nắng trải hai vai/ Gió đồng quấn quýt một ngày nhẹ tênh”. Tầng ba, ống kính thơ tiếp tục nâng lên cao theo phía cánh chim bay vút lên trời xanh “Này chim dồng dộc bay lên/ Lá xanh đan võng ru trên nhánh cành/ Hỡi chim, này, cỏ rất xanh/ Tha lên làm tổ hót quanh vòm trời.” Sự sống có mặt và sinh sôi ở mọi nơi. Trạng thái thăng bằng này là kết quả mà nhà thơ đã tìm lại được sau khi kết bạn với đá núi Sơn Trà.

 

“Chiều mình anh trên đồi Ái Ân

Ngọn gió vàng thơm dập dìu lá cỏ

Một vạt nắng xanh hàng thông nghiêng nhớ

Bàn chân ai qua dốc đá vẹt mòn”.

                                                                (Trên đồi Ái Ân)

 

Nguyễn Nho Khiêm tự tin viễn du giữa đời và phát hiện ra: thiên đường không phải ở nơi xa thẳm như quan niệm của Phật giáo và Nho giáo... Thiên đường tồn tại ngay trên mặt đất này, ngay bên ta mà nay ta mới biết. Mọi angten thơ được bật lên để thu nhận tất cả những tín hiệu từ cuộc sống. Thiên nhiên được cảm nhận bằng sự tương hợp nhiều giác quan. “Ngọn gió vàng thơm dập dìu lá cỏ”, thị giác được mở ra, khứu giác nhô lên để lần đầu tiên phát hiện màu và mùi của gió - màu vàng, mùi thơm. Một vạt nắng xanh hàng thông nghiêng nhớ/ Bàn chân ai qua dốc đá vẹt mòn” đây là sự tương giao giữa thị giác, xúc giác và linh giác. Nắng không vàng mà dịu dàng sắc xanh liêu xiêu giữa hàng thông nghiêng nhớ. Biết bao bàn chân đã, đang và sẽ còn tiếp tục bước qua làm dốc đá vẹt mòn…

Thơ Nguyễn Nho Khiêm không chinh phục người đọc bằng những cảm giác lạ, những hình ảnh ấn tượng mà từ từ thấm sâu vào lòng người bằng chất trữ tình đằm thắm, bằng thế giới hình ảnh thân thương, một lối tư duy sâu sắc, đậm đà văn hóa phương Đông. Khi đọc hai tập thơ đã xuất bản của anh, Tiến sĩ Nguyễn Đình Vĩnh khẳng định: “Nguyễn Nho Khiêm vẫn đang trên hành trình sáng tạo. Từ Khói toả về trời đến Bên ngoài cánh đồng đã là một khoảng cách. Khoảng cách của sự tiệm cận về với những giá trị nghệ thuật và ý hướng đổi mới. Những sáng tác đăng tải gần đây của anh như đậm nét hơn ở những cung đường ấy. Có phải vì thế mà chúng ta có quyền hy vọng, đón đợi ở tập thơ thứ ba của anh”. Hôm nay, đọc “Nắng trên đồi” chúng ta nhận ra ngay rằng những dự cảm nghệ thuật của tiến sĩ Nguyễn Đình Vĩnh là hoàn toàn chính xác.

 

 

NGUYỄN THANH TUẤN

NGUỒN: phongdiep.net