Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

BỀN BỈ NHỮNG KHÁT VỌNG - Huỳnh Minh Tâm

 
 
Văn nghệ sĩ Quảng Nam đi thăm vùng Tây Bắc, chụp hình lưu niệm trước hầm De Castries
 
 

                             BỀN BỈ NHỮNG KHÁT VỌNG 

 

 

                                                                                      Huỳnh Minh Tâm

 

 

          ( Nhân đọc : “Quảng Nam /15 năm/ một vùng văn học”- tuyển tập thơ/văn 1997-2012)

 

 

          15 năm, kể từ khi tách tỉnh 1997-2012, so với chiều dài lịch sử một vùng đất kiên trung như Quảng Nam thì mốc thời gian ấy quá ngắn ngủi, nhưng so với quá trình sáng tạo của những người cầm bút, so với những chuyển đổi các thế hệ sáng tác, kẻ ở người đi, sự đổi thay các quan niệm, các giá trị xã hội cùng với tốc độ phát triển công nghệ khoa học như hiện nay, thì chắc rõ là dài. Những nhà văn, nhà thơ của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam đã tập hợp khá đầy đặn trong tuyển tập : “Quảng Nam/ 15 năm/ một vùng văn học”, như muốn đánh dấu một chặng đường đầy ý nghĩa và có giới hạn, như muốn nhìn lại và vươn tới, “hướng về việc tìm tòi những cách thể hiện mới mẻ để hy vọng có thể đồng hành với sự chuyển đổi của người đọc hôm nay”. Trong tập sách này, những thế hệ cùng đồng hành, những “gu” thẩm mỹ khác nhau, các phong cách viết khác nhau, các quan niệm về chân, thiện, mỹ có thể khác nhau..., nhưng tựu trung vẫn là khát vọng bền bỉ viết về con người, tình yêu và cái đẹp với những số phận, những tâm tư, những lo toan, những xúc cảm mang “âm hưởng” của vùng đất Quảng Nam “đầu sóng ngọn gió”.

 

Trong “Quảng Nam /15 năm/ một vùng văn học”, lớp cha anh có nhà thơ Vũ Minh. Ông sinh ngày 3/2/1924, tại Hội An, tính ra đã ngoài thất thập lâu rồi. Cách đây chừng mười năm vẫn còn thấy ông đi lại đây đó, viết lách đều. Nay thì dường đã nghỉ ngơi. Ông đã có những đầu sách ấn tượng : Âm vang lòng biển (thơ, 1984) Thơ Vũ Minh (1991), Giọt sương, Giọt trăng (thơ, 2001). Nay ông góp 2 bài trong tuyển : Yêu thầm, Thổi sáo. Thơ ông giản dị, trong sáng tình yêu về con người :

 

          Anh cứ ngỡ yêu em từ kiếp trước

          Thuở mái tóc bên em còn xanh mượt

          Trời mùa xuân sóng nắng đuổi nhau bay

          Và bàn tay nắm chặt lấy bàn tay

          Gió lốc thổi không bao giờ nghiêng ngả

          Tình yêu chậm vội vàng chi giục giã

          Để chừ đây mây trắng quyện sông trôi...

                                                   (Yêu thầm)

Nhà văn Nguyễn Bá Thâm, sinh năm 1948, tỉnh Nghệ An, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Đất Quảng nhiều năm. Ông đã có những tập bút ký hay : Đi dọc đường biên (2004), Đất của máu và lửa (2005), đạt giải thưởng Văn học Nghệ thuật Đất Quảng lần thứ I. Miền đất trung du, Làng đầu nguồn trong tuyển là mạch nguồn sáng tạo của ông viết về Quảng Nam một thời oanh liệt chống giặc và bây giờ là xây dựng đất nước. Trang văn của ông đầy xúc cảm, nóng hổi các sự kiện, tính nhân văn cao: “Cuối năm 1973, tôi lên vùng biên Việt- Lào công tác. Mùa mưa, đường rùng ngổn ngang cây đổ và dày đặc mây mù. Sau hai đêm ngủ rùng, đến tối thứ ba chúng tôi mới gặpđược một làng Cơ Tu. Làng nằm đầu nguồn sông Bung, không quá một chục cửa.Dũng-cán bộ Tuyên giáo huyên Nam Giang, người được Huyện ủy giao làm hướng dẫn viên cho tôi trong chuyến công tác này-cho tôi biết đây là làng A Ró...”

                                         ( Làng đầu nguồn)

 

Nhà thơ Phạm Thông, sinh năm 1954, Tam kỳ, hiện Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tam Kỳ. Những năm gần đây ông viết khá nhiều, đặc biệt bút ký và đã có những thành công nhất định. Riêng gia tài của ông có thể liệt kê như : Lời của cát (thơ, 2000), Xin giữ chút tình (thơ, 2009), Cát đỏ (bút ký, 2010), Tam Kỳ thời lửa đạn (bút ký, 2012). Thơ ông phóng khoáng, có nhiều nốt duyên thầm, văn ông trong sáng, mạch lạc (Những nẻo đường mang cõng, “ Bác sĩ Bắc Việt” thoát chết).

 

          Đất vùng đông

          Quê tôi nghèo lắm

          Củ khoai cong

          Quấn mình trong cát

          Ngón chân mẹ già

          Nguệch ngoạc giữa đường trưa

                                           ( Lời của cát)

Rồi còn phải kể nhà văn (tay) viết bút ký nổi tiếng Quảng Nam Hồ Duy Lệ, với Khôn nguôi Vĩnh Trinh, Chiều cuối năm; Trương Xuân Đông đóng góp hai bài thơ: Không đề, Có một thời như thế.

 

Lớp kế tiếp các nhà văn nhà thơ trên, có lẽ khá đông, đã góp phần làm “dày” thêm tập sách cả hình thức lẫn nội dung. Nhà văn Tiêu Đình, sinh năm 1953, Quế Sơn. Anh đã xuất bản : Phiên tòa trên cát (1997), Đội bóng nhí xóm mới (2011), Mộng du giữa ngày (2009), Ngoài tầm bão xoáy (2011)... Kể từ ngày về Hội làm công tác quản lý, dường như việc viết lách của anh không những chững lại, mà còn có vẻ đều đặn, sâu sắc hơn. Cách tiếp cận vấn đề của  nhà văn Tiêu Đình lạ và hóm, mổ xẻ vấn đề có lý có tình.

 

“Cô Mộc đẹp dáng, thông minh, lại có tài giao tiếp. Theo kinh nghiệm ông bà mình để lại thì đó loại người khôn: “ Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe”. Qua điện thoại cũng như ngoài đời thường, giọng cô lúc nào cũng nhỏ rứt, trong veo và dẻo quẹo như có nam châm hút người. Gần ai là y như người đó bị hút dính cả đời, đố mà gỡ ra cho nổi. Nghe nói, trước khi về công ty, lực hút lạ lùng ấy đã kéo ngã rụp, cả ghế lẫn người, một tay lãnh đạo từng có biệt danh đáng gờm: “sát thủ mặt sắt”. ( Ngoài tầm bão xoáy).

 

          Nhà thơ Mai Thanh Vinh, quê Điện Bàn, cũng đã ra mắt bạn đọc 2 tập thơ: Khát trăng (2003), Góc Khuất (2008). Như tôi đã viết giới thiệu chị đôi lần, đây là nhà thơ nữ, dù chịu nhiều áp lực công việc người mẹ, người vợ và chuyện bếp núc, chị vẫn viết sung sức, nhất là thời gian gần đây, thơ chị thêm phần góc cạnh, tiết tấu nhanh, mạnh, đặc biệt là đề tài số phận của những người phụ nữ trong cuộc sống nhiều bất trắc, và nỗi cô đơn thường trực.

 

          Ta về tạ lỗi mẹ cha

          Bặt tăm từ thuở bỏ nhà tha hương

          Ba mươi năm lạc con đường

          Quẩn quanh nắng gió mưa sương gánh gồng

          Trở về tay vẫn trắng không

          Mới hay vườn cải lên ngồng từ lâu

         Đâu còn dò dẫm nông sâu       

          Ao làng giờ đã bạc màu thu phai

          Cúi xin tạ lỗi đêm dài...

                                  ( Lục bát chín câu)

Tạm gọi là cùng trang lứa với chị còn có  Lê Thị Kiều Chinh, nữ nhà thơ luôn lặng lẽ, khiêm nhường trong cuộc sống đời thường, sinh hoạt hội họp lẫn bút pháp trong thi ca. Chị viết: “ Lặng lẽ như cây chuối trong vườn/ lặng lẽ sinh con/ lặng lẽ xanh rồi chín/lặng lẽ dâng người những trái vàng ngọt lịm/ hương trong vườn có lẫn cả hương em” ( Lặng lẽ). Nữ sĩ Phương Dung, quê Tam Kỳ, có cách viết “hoạt bát” hơn, thể hiện tự ngã nhưng nhức và mãnh liệt: “ Đàn ông vẫn tồn tại trên thế gian này/ làm chủ những lâu đài/ những lâu đài đều có người gác cổng/ cần mẫn và dữ dằn/ đôi khi dịu dàng/ nhưng không hề vơi lòng ngờ vực/ những người đàn ông giống nhau lạ lùng/ đều muốn bước ra khỏi lâu đài bằng đôi chân vững chãi/ nhưng lại quên mang theo linh hồn/ nên họ về nhầm” ( Sự giống nhau của gió). Chị cũng đã xuất bản 2 tập thơ đầy ấn tượng là: Vừng ơi (2003), Phía tàn tro (2011). Rồi Lê Thị Điểm, quê Quế Sơn, góp mặt 2 tác phẩm thơ: Gió Đèo Le và Thiên Sứ. “ nếu được làm ngọn gió Đèo Le/ Em sẽ đi tìm đôi dép lạc mang vào chân mẹ/nâng nhẹ gánh vai cha/ và ru anh /mỗi khi anh mỏi phố về nguồn/ có thể chỉ là bóng chim tăm cá/ gió Đèo le vẫn dịu dàng cần mẫn” (Gió Đèo Le). Hay Đỗ Thị Kết với 2 bài: Chỗ rốt ráo, Tượng Gỗ và nhà đất. “ Anh mù/ viếng bạn vào đêm/khi về/ gia chủ biếu cây đèn lồng/ với tôi, đèn có như không/dù sáng hay tối cũng đồng như nhau/ anh đâu đi giữa ban ngày/ nếu không có nó chẳng hay chút nào/ người sau, kẻ trước va vào/thôi thì cầm lấy có sao đâu mà/ anh đi chưa được bao xa/ người từ phía trước bỗng va suýt nhào/ anh rằng: không thấy đèn sao ?/ bạn ơ,i nến tắt tự bao giờ rồi”( Chỗ rốt ráo). Bạn đọc dường như vẫn chờ đợi những tác phẩm mới hơn của hai chị.

 

Nhà văn Lê Trâm, Quế Sơn, một cây bút quá “ già dặn, già làng, già cỗi” của Đất Quảng với nhiều tác phẩm và giải thưởng như: Nghe vọng tiếng đồng (2010), Một giấc Hồ Điệp (2007), Mơ phía chân trời (2004) ...Giải thưởng văn học nghệ thuật Quảng Nam-Đà Nẵng 1985-1995, giải thưởng văn học nghệ thuật Đất Quảng lần thứ I,...cũng đã góp mặt hai truyện ngắn “đặc sắc” của anh sáng tác thời gian gần đây: Một giấc Hồ Điệp, Truyện đốt theo sông. Lê Trâm, như nhiều anh em văn nghệ Đất Quảng nhận xét, là cây bút văn xuôi chững chạc, nếu không muốn nói là viết hay nhất, sung mãn nhất những năm gần đây ở vùng Đất Quảng Nam. Anh luôn có tư duy đổi mới, chịu học hỏi, ham đọc và đi thực tế và “viết thu hoạch”. Văn anh có chất biền ngẫu, đầy xúc cảm, đôi khi trào lộng, văn anh đi vào sông núi quê nhà thấm đất thấm cây, đi vào lòng bạn đọc đầy hứng khởi

 

Thường chuyện hay bắt đầu từ một người đàn bà, ở đây là bà nghè An Lộc. Trong một bữa tiệc do ông nghè chủ xướng gồm toàn những vị tai to, mặt lớn của làng tổng bà nghè bỗng nổi hứng mượn một dòng chảy về tưới nước cho mấy cánh dồng đang có nguy cơ khô hạn gần nhà. Rượu vào ngà ngà cái gì chẳng thể bán được huống hồ chi cái thứ chẳng ai quản được là sông. Mà đây chỉ là khơi thêm con lạch nhỏ. Vậy là bán, ồ không, mượn thì mượn! Lâu dần dòng chảy biến thành sông. Và dòng chính chảy về phía Thi lai một ngày kia không còn thấy nữa...( Truyện đốt theo sông).

 

Nhà thơ Phùng Tấn Đông, người luôn cổ xúy cho sự đổi mới của thi ca, nhất là những trào lưu văn học những năm tháng gần đây như thơ Tân hình thức, văn học hiện đại và hậu hiện đại, những khuynh hướng thơ hội nhập với thế giới mở, rồi anh “lấn sang” lĩnh vực truyện ngắn, những quan niệm siêu liên kết, sự chồng chéo, đan cài các thể loại trong một văn bản, và dường như ở đây anh cũng có một số thành công. Trong tuyển này, thơ anh góp 2 bài: Diễn từ của loài hổ nanh kiếm Smilodon, Nghe những gió mồ thổi lại; ở văn, anh có truyện: Mưa suốt tháng giêng. Cả hai lĩnh vực, dường gặp nhau ở một điểm là cách viết của anh phóng khoáng, tự do, ít câu nệ hình thức truyền thống, ngôn ngữ diễn đạt có phần “Tây hóa”, cách đặt vấn đề lạ, riết róng.

 

Đừng vội cười tôi cũng như con người tôi không chọn cha mẹ chọn thời để sinh ra để chết

tôi có hai chân sau ngắn hơn hai chân trước

tất nhiên tôi có hai răng nanh dài như hai thanh kiếm thép

( các nhà cổ sinh vật học cho rằng tuy vậy sức nhai của răng tôi yếu hơn loài hổ thường hoặc sư tử)

tôi sinh ra hoặc để chiến đấu hoặc chết

bởi hai chân sau ngắn tôi chạy chậm bởi răng của tôi tuy dài nhưng nhai yếu

tôi là Smilodon-hổ nanh kiếm

đánh thì quen đánh đòn cận chiến dùng hai chân trước dài kẹp chặt đối thủ những bò mộng voi ma mút lớn xác

tấn công chớp nhoáng tôi hoặc chiến thắng hoặc chết

                           ( Diễn từ của loài hổ nanh kiếm Smilodon)

 

Rồi sự góp mặt của thơ Nguyễn Chiến tình yêu và u ẩn: ngày mai đời hết rươu/ ta còn cái ly không/ cất lên khà một cuộc/ đã cái đời thi ngông (Thông điệp trắng). Nguyễn Tấn Sĩ với thơ trào lộng và “khinh bạt”: dài hay ngắn cũng mưa mau/ ủ chung cái lạnh như nhau nỗi buồn/ tường vôi rêu đá cuống cuồng/ phù du chẳng biết yêu suông là gì ( Không khí lạnh). Huỳnh Minh Tâm với 2 bài: Bài thơ về sự kiên nhẫn,  bài thơ về sự thật : sự thật cho tôi giấc mơ về cỏ và những vì sao/ sự thật hắt hủi tôi thành loài sói hoang/ sự thật tô vẽ tôi trên bức tường/ sự thật ở bên trong/ tâm hồn tôi/ cây ngã bóng sóng soài/ hắt lên ngọn lửa ( bài thơ về sự thật) gợi những khát vọng về một cuộc sống đằng sau những giấc mơ. Phạm Tấn Dũng ấn tượng với cách thể hiện mới, hiện đại, cách suy nghĩ “táo tợn”: những dòng sông rần rật hát lời câm/ rần rật khóc khuya/ rần rật những mạch ngầm âm ỉ đi trong mình/ nhưng không thấy mình (Nghịch Sông). Nguyễn Hải Triều mang đến một không khí thơ đằm thắm, nặng tình quê hương: bữa về chỉ bến và tôi/ ngẩn ngơ một cánh buồm trôi giữa dòng/lưng chừng nắng với mênh mông/ lặng im sông chảy mà không nói gì... (Lục bát gửi sông). Nguyễn Đức Dũng ám ảnh bởi những thị phi trần thế, những lo toan của đời sống, giọng thơ riết róng, “tựa lên đồng”, lạ: đàn chim nhỏ sinh ra kế thừa đường bay truyền kiếp mộng mơ/ cắt liệng tài hoa không bao giờ lặp lại/ gà vịt ngỗng ngan nhẩn nha ăn quẩn trong vườn/ ưỡn ngực đập bụi mù biểu tượng/ làm sao biết mình bi kịch loài chim ( Từ tổ chim trong sân trường Đại học). Nguyễn Quang Cân miên man tình quê Duy Xuyên, tình mẹ và em: em đi rồi xa ngút một màu xanh/ là kỷ niệm những tháng ngày xưa cũ/ câu hát ngắn khó giãi bày tâm sự/ anh giấu lòng sau hai tiếng hò khoan ( Đi tìm câu hát hò khoan).  

 

Riêng mảng văn, cũng nhiều cây bút đã gây ấn tượng trong lòng bạn đọc đất Quảng, ngoài những cây bút đã nêu ở trên, còn có Cao Kim với tác phẩm Mẹ và con,  Duy Hiển với  Lặng thầm dáng núi,  Khiếu Thị Hoài với Khúc sông, Nguyễn Tam Mỹ với Bạn nhỏ vùng giáp biên, Nơi từng sống và yêu. Nhìn chung các tác phẩm kể trên đều nóng hổi các sự kiện, chất chứa những trầm tích văn hóa của một vùng đất máu lửa cả ý chiến tranh và đời sống. Tôi ‘ tò mò” đọc truyện ngắn của Nguyễn Tam Mỹ xem những sự vụ “ gây cấn, gây hấn” có còn nồng mặn trên trang viết của anh. Tuy các tình tiết đã không còn nhiều chất “ thời sự tỉnh lẻ”, nhưng bút pháp vẫn cay nồng, sâu sắc.

 

Trong tập sách “Quảng Nam /15 năm/ một vùng văn học” (tuyển tập thơ/văn 1997-2012), điều tôi chú ý nhất, có lẻ là những cây bút “ trẻ” ( khái niệm “ trẻ” ở đây được hiểu theo nghĩa là: có thể trẻ tuổi đời, có thể trẻ tuổi nghề, có phong cách viết trẻ, mới vào hội so với các cây bút khác, ít chịu tác động các khuynh hướng văn học lỗi thời...). Chẳng hạn, nhà thơ (viết cả phê bình và văn xuôi) Trương Vũ Thiên An, mặc dầu anh vào Hội cũng đã lâu, viết chín và hay, bền bỉ, nhưng những trang thơ của anh dường như mới mẻ, ấn tượng: cuối mùa, những con nước cũng rút thôi/ chào những dòng sông róc rách một đời, róc rách một thời/ chào những dòng sông tí tách một ngày, tí tách một trời/ để lại hồn nhau những đường dâu bể/mai mốt bên bờ sông có kẻ sang sông giữa mưa nguồn chớp bể ( những dòng sông thắp nắng) . Luyến láy những câu thơ như tự nhiên ? nhiên, như trong trẻo lạ lùng. Tôi dụi mắt. Tim nhói lên bất ngờ. Dường như người đàn ông với chiếc hon đa cũ vừa ngoặt sang một ngã khác. Chỉ còn lại cái bóng nghi hoặc đầy ảo giác trắng xóa cuối đường. Cái bóng gần gũi đến đau thắt tâm hồn tôi. Trên quãng đường quen đến thương xót lòng. Cả quán nhậu rùng rùng trong đêm say. Theo từng nhịp hả hê:-Dô! D...ô! cũng như mọi lần, ngày xưa, bây giờ, và chắc gì không mai sau nữa, tôi lại vụng trộm liếc mắt nhìn thật nhanh. Bẽn lẽn, có cảm giác cây liễu thầm nhận ra mình ( Phố Liễu). Chất văn phong phanh, ngọt ngào và mê hoặc. Tôi nghĩ “tay này còn đi xa lắm lắm!”. Ngô Thị Thục Trang, thân nữ dặm trường trên con đường văn thơ dài dằng dặc. Dường như ở cây bút trẻ này có sự mẫn tiệp, tinh tế . Trong tuyển tập, thơ có: Cafe ngã sáu, Con gái miền Trung, Mắc nợ tháng giêng; văn có: Trôi qua mùa đông, Những cơn mưa ở lại. Truyện cũng như thơ, đọc Trang là ta thường giữ lại một tình tiết, một ấn tượng nào đó thật xúc cảm, dẫu chưa phải quá sâu đậm, nhưng cũng miên man xao xuyến: mắc nợ tháng giêng tóc bà mây trắng/ cổ tích ru con ngủ giữa hương trầu/ cổ tích con nghe đoạn kết nào cũng đẹp/ mà một chiều con lạc nối suốt ngàn sau ( mắc nợ tháng giêng). Nguyễn Tấn Cả dám đánh đổi cả đời sống huyền nhiệm với thi ca. Anh chịu ( Hoặc số phận ?) sự trôi nổi thác ghềnh của tháng ngày mà ‘xanh biếc’ những câu thơ đầy nhiệt huyết:

 

          Trong bề bộn gương mặt, tôi nghe những nếp nhăn cười đùa

          Những tế bào da nổi cơn sốt sắc màu giới tính

         Thời gian đạp chân khổng lồ lên từng sợ hãi

          Giẫm đạp hoài nghi về nước mắt con người

          ........

          Trong lo âu, Người gồng gánh phương Đông hay gánh chính mình

          Những đồi núi trập trùng phơi sắc

          Sợi dây mềm dẫn Người về với mẹ

          Đừng lưỡi rìu nào liếm xuống ước mơ

                                              ( Đường bay).

Rồi phải kể thêm Nguyễn Ngọc Chương với văn: Tiếng còi tàu cuối năm, lão Hườn; Huỳnh Thị Thu Hậu với Nhật ký cho Đỉnh Bình Yên; Nguyễn Bá Hòa với Cái Bẫy, về với bố; Phạm Thúc Hồng: Ánh trăng u huyền; Đặng Trương Khánh Đức: Tù và gọi tung tung za za, Miền Ký ức; La Trung có thơ: nở sáng, Lá dỗ;  Thái Bảo-Dương Đỳnh có Xin gửi mai sau, Nam mô, Trưa rừng ,vv...

 

Phần cuối bài viết này, tôi muốn giới thiệu 3 nhà thơ đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi những năm tháng gần đây. Thứ nhất là nhà thơ Phan Chín. Phan Chín không chỉ viết thơ mà anh có những trang văn rất hay và đẹp. Tập tản văn Vĩ Thanh Hoa của Phan Chín như những bài thơ dài về hình ảnh đẹp đẽ, mê hoặc và đầy cảm xúc chân tình, tình yêu quê hương nồng đượm của tác giả chia sẻ với bạn đọc. Tôi cũng đã từng viết, có những tản văn anh viết tưng tửng, hí hoáy nhưng làm ta giật thót mình về chiều sâu văn hóa, về kí ức không chỉ là giấc mơ mà còn là “nền tảng”, hoặc “bóng râm” của cuộc sống, chẳng hạn như : “ góc chợ quê, nhớ nắng,một thoáng Mỹ Sơn, Tam Kỳ hẻm, Kiều ơi”. Rồi ta gặp những bức tranh đẹp và sống động sinh sôi, những đọan văn bềnh bồng như mây trôi, như nước chảy, như sương bay. Trong tuyển này, Phan Chín chỉ giới thiệu hai bài thơ: Địa chỉ tình yêu, Vĩ thanh .Hai bài thơ đều có cách diễn đạt lạ, cách nhìn sự vật sự việc trần trụi, đầy cảm hứng và thách thức:

 

          Những cuộc tình đang bị xâm thực

          thời gian lở vào đời người

          dấu chân tuổi hằn sâu lên mắt

          Chợt trỗi dậy ý nghĩ chạy trốn

          lại vấp tiếng rên đắm đuối nụ hôn cuồng

          Em như cây tiểu quỳnh bé nhỏ ngoài kia

          chớp mắt yêu

          chớp mắt hoa

chớp mắt lụi tàn dâng hiến

chớp mắt tái sinh về phía không mùa

còn trơ lại mình anh với đêm

ê hề bữa tiệc tình yêu thịnh soạn

                            (Vĩ thanh)

 

          Nhà thơ Đỗ Thượng Thế như nhà thiết kế ( hay bị ám ?) ngôn ngữ. Thơ anh đầy đặn cái tôi mạnh mẽ, quyết liệt để phản ánh hiện thực trong giác mơ bị bóp méo mó. Cái nhìn của anh về thế sự thật lạnh lùng, đôi chút hóm, mang tính ẩn dụ, phúng dụ, bắt người đọc phải “ động não”, phải va đập cùng trái tim nóng hổi nhịp sống của thời đại:

 

          Bà ơi!

Ngày ngày

Ngụp trong bụi phố

Cháu lại thấy

Con sông quê mình phăm phăm về phía nghẹn đêm

Đêm vỡ ải như trạnh cày sục ruộng

Từng đàn bò quày đầu bên kia bờ ào lên cơn sập nước

Lớp lớp chân non giạt những mùa giông

Giạt tiếng chim bập bềnh sương giá

Giạt tàn đuốc sậy giạt thất thanh đỉnh lũ giạt lùm lùm khuya

Dế giun thức nồng hơi đất

Bãi cồn dần dần nhô lên mỗi lúc một xanh

                                       (  Niệm Sông)

 

Cuối cùng là nhà thơ Nguyễn Giúp. Đọc thơ Nguyễn Giúp, tôi nhận ra một phong cách thi ca vừa dân gian, vừa bác học, vừa đơn giản thô nhám, vừa xa lạ bạo liệt:

 

          Có tôi quay về chốn cũ

          Bãi bồi quê cha quê mẹ

          Xanh non lúa non dâu

          Mỏng mảnh nỗi niềm sông từng hồi thức

          Khuôn mặt người quen chảy dài mùa màng

Đêm quê họ mỏi lòng nguồn cội

          Tre cong đời tre gửi vào đất đai khúc chiết

          Lục tung nỗi nhớ nhà lại gặp sắn khoai lận đận

Nửa đời không giấc mơ buổi trăng

Làm sao như con bê vàng ngây ngô bú mẹ

Làm sao bẻ thân lau mà cờ

...

Bên kia đồng dế non ngậm gió

Bờ kêu một thơ trăng vuông

Đất ơi! Nước ơi! Mái đình rêu

                       ( Tôi & sông)

   Điều dễ dàng nhận thấy, nếu bạn đọc theo dõi sát sao và có gửi gắm tình cảm của mình cho văn học Quảng nam, thì tuyển này đã góp mặt rất nhiều gương mặt mới với những phong cách khác nhau, và luôn cố gắng thoát khỏi cái bóng của những người đi trước và cả giẫm lên dấu chân của chính mình. Dường như cách viết truyền thống, cách tư duy truyền thống, những màu sắc tượng trưng, những ẩn dụ truyền thống, nếu đã lỗi thời, được thế chỗ cho những nét mới mẻ tinh khôi. Thể thơ tự do, cách viết phóng khoáng, ít chịu “ niêm luật”, ngôn ngữ giảm bớt những “tính từ”-nguồn gốc của cảm xúc “ duy tình ẻo lả”, giảm bớt những sáo ngữ. Truyện giảm bớt thời gian tuyến tính, cách kể nhiều ngôi thứ, nhân vật đan xen, truyện không nhân vật, hoặc không khắc họa tính cách nhân vật một cách thô thiển,

quá rõ ràng, không thay đổi dần dần đi vào quan niệm của các cây bút. Xin phép ở đây cho tôi không nêu những dẫn chứng cụ thể, bởi ở mỗi cây bút tôi cũng đã có “ điểm nhãn” rải rác ở các bài viết khác nhau

 

Bài viết này chưa kể hết những tên tuổi các anh chị có mặt trong tập sách, cũng như có những nhận xét có thể lệch lạc, rất chủ quan của người viết. Có thể tầm nhìn còn hạn chế, cũng có thể những quan niệm khác nhau về cái hay cái đẹp bất tận của văn chương mà chúng tôi chưa thấu đáo, cũng có những cái đẹp cái hay của các tác phẩm còn ẩn khuất ở đâu đó mà người viết bài này chưa có điều kiện “ nhìn rõ mặt”, thì chúng tôi cũng hy vọng các tác giả thông cảm, khoan dung để những bài viết sau đầy đủ và tốt đẹp hơn. Cuối cùng, ngoài sự đóng góp sáng tạo bền bỉ, những khát vọng vô bờ bến của các tác giả là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam, còn có sự đóng góp rất lớn của Ban Tổ chức bản thảo, của Ban biên tập và của anh Huỳnh Lê Nhật Tấn đã trình bày bìa trang trọng,đẹp, và ấn tượng. Tất thảy, tất thảy tạo nên một bầu không khí nồng ấm và tin tưởng cho Quảng Nam/ 15 năm/ một vùng văn học, và cho những hy vọng mới trên tiến trình phát triển và hội nhập văn hóa trong thời đại mới.

 

Huỳnh Minh Tâm

 

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ, Đại Lộc, Quảng Nam

ĐT 0122 306 8721