Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

Có hay không cốt cách "hay cãi" ở người Quảng Nam?

                                                                                                         PHAN THANH MINH
 

Theo từ điển tiếng Việt, “cãi” được giải nghĩa “dùng lời lẽ chống lại ý kiến của người khác nhằm bảo vệ ý kiến hoặc việc làm của mình”. Câu nói dân gian “Quảng Nam hay cãi” không biết xuất xứ từ đâu, có từ bao giờ, và nhận xét có hoàn toàn đúng với cốt cách của người dân xứ Quảng hay không? Các câu hỏi ấy đến nay vẫn còn bỏ ngõ. Vì thực ra, nhiều người Quảng Nam rất trầm tĩnh, ít nói mà công việc của họ có khi vượt cả không gian và thời gian.

 

PHẠM PHÚ THỨ (1821-1882) 

 

Ví như Phạm Phú Thứ (1821 – 1882), từng đỗ song nguyên, thi hội và thi hương đều đỗ đầu, 22 tuổi đỗ Tiến sĩ, từng làm quan đến chức Tổng đốc, rồi chức Thượng thư Bộ Hộ. Vốn là người cương trực nên có lần dâng sớ can ngăn vua Tự Đức không nên ăn chơi xa xỉ mà bị cách chức, giam ở nhà lao Thừa Thiên và bị đày truất làm lính trạm. Trong hoàn cảnh ấy, ông vẫn cam chịu làm bậc “tôi trung” để sau này trở lại làm Than tri Bộ Hình. Năm 1863, ông được sung vào sứ bộ cùng với Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản sang Pháp thương thuyết xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cũng không đem lại kết quả. Song trong thời gian đi dài ngày sang Pháp và Tây Ban Nha, ông âm thầm ghi chép tỉ mỉ những chuyện “mắt thấy tai nghe” về khoa học công nghệ phương Tây để viết nên Tây phù thi thảo và Tây hành nhật ký (còn gọi là Giá Viên biệt lục) đến nay vẫn còn giá trị với lịch sử trong nước và thế giới, đồng thời ông cũng không quên mang về cho đất nước cái xe đạp nước kéo bằng trâu kiểu mẫu Ai Cập. Đáng kính thay và đáng tiếc thay cho một nhân tài của đất nước  phải “chết đứng” giữa tháng năm u ám của chế độ phong kiến bảo thủ!

 

 PHAN CHÂU TRINH (1872-1926)

 

 

Ví như Phan Châu Trinh (1872 – 1926), từng đỗ Cử nhân và Phó bảng, được bổ dụng làm chức Thừa biện Bộ Lễ mà hơn một năm không thấy mặt ở Bộ Lễ. Bởi lẽ Phan tiên sinh “đâu có thiết làm quan mà cốt xem xét chính giáo mình hủ bại ra thế nọ, sĩ phu mình liệt nhượt ra thế kia” (Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử). Có lần cụ Phan nói: “Tôi ở Bộ Lễ hai năm, kẻ khác đắc chí ở chỗ có tài được vênh vang, tôi đều biết thế mà không phải không bắt chước được. Nhưng đắc chí của tôi không ở chỗ ấy. Làm quan không sướng bằng ở tù. Thà bị giam cầm ở nơi hải đảo, làm người xa quê hương, bị người đánh đập, mắng nhiếc… chớ không muốn ngồi ngựa, cởi xe, ẳm vợ, ôm hầu, múa mép khoe khoang cùng bạn bè cái đắc chí của mình. Bởi thế người trong nước cho tôi là khùng, là ngu… nhưng lấy con mắt bác ái, bình đẳng mà xem thì tuy không bằng người, nhưng cũng là một điều phải vậy” (Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam).  Khi nhận ra chân tướng ở chốn quan trường, năm 1905, Phan sẵn sang rũ bỏ áo quan để cùng hai người bạn đầy tâm huyết, cùng quê quán Quảng Nam là Tiến sĩ Trần Quý Cáp và Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng làm cuộc Nam du với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bọn đồng tâm. Đến Bình Định, ba ông lẫn vào đám sinh đồ nhân kỳ khảo hạch thường niên trong tỉnh để làm thơ, làm phú theo đầu đề của quan trường, nhưng nội dung lại chống bệnh mê muội khoa cử và kêu gọi sĩ tử hảy tỉnh dậy giải thoát giống nòi khỏi cảnh lao lung. Bài thơ Chí thành thông thánh của cụ Phan đã làm vang dội dư luận đương thời và có tác động khá lớn trong việc thức tỉnh thanh niên. Vốn là người học theo lối khoa cử, từng đỗ đạt, từng làm quan nhưng cốt cách của Phan đâu chịu “túi cơm giá áo loàng xoàng vậy/ Gối tớ lưng tôi lúc nhúc đây”, nên sau nhiều sự kiện xảy ra ở Đông Á, ông sẵn sàng khước từ “cửa Khổng sân Trình” và tìm đến tư tưởng cách tân của J.J. Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vy… Ông rất phục chí khí của Phan Bội Châu khi đọc Lưu cầu huyết lệ tân thư nhưng không đồng ý “cái độc quyền chuyên chế cùng cái hủ nhà Nho ta đã thành chứng bất trị” mà “học thuyết tự do dân quyền Âu Tây chính là vị thuốc trị đắng đầu chữa bệnh đó”. Ông đã sang Nhật xem xét công cuộc Duy tân của họ nhưng không chủ trương trông chờ bên ngoài, không chủ trương bạo động mà thức tỉnh lòng dân, tạo nên dân khí mạnh mẽ, thể hiện tinh thần yêu nước, lòng tự trọng, tự tin vào chủ nghĩa dân quyền; bỏ lối học cũ, thay vào lối học mới, bài trừ những tệ nạn để dân trí ngày càng tiến bộ; mở mang nông, công, thương để dân có kế sinh nhai và phát triển… Dựa vào chính sách của “Chính phủ bảo hộ”, cụ đã mạnh dạn gởi bản điều trần lên Toàn quyền Đông Dương trình bày hoàn cảnh nguy ngập của dân, quan lại độc đoán, thuế khóa nặng nề và yêu cầu “Chính phủ” chú ý về cuộc cải cách ấy. Đáng chú ý là vào năm 1922, cụ đã khẳng khái “cãi” đến “thiên tử” không làm tròn trách nhiệm. Đó là sự kiện khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo ở Marseille, cụ đã viết Thư thất điều kể bảy tội của vị vua này, trong đó có hai tội không thể dung tha: làm nhục quốc thể và vung phí của dân. Có thể xem Thư thất điều là bản tuyên ngôn đầu tiên của một công dân nước ta với người cầm quyền cao nhất. “Cãi” như thế đáng phục lắm!

 

Lý giải hiện tượng “Quảng Nam hay cãi”, Phó giáo sư ngôn ngữ học Vương Hữu Lễ (trước 1975 dạy ở Đại học Văn khoa Huế, sau 1975 dạy Đại học Tổng hợp Huế - nay là Đại học Khoa học Huế) cho rằng: điểm xuất phát câu truyền khẩu này liên quan đến sự kiện cách nay hơn 75 năm. Khởi đầu là cuộc bút chiến giữa hai nhà báo Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế vào năm 1924. Ông Quỳnh đề cao Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc hoa, quốc túy”, cụ Ngô Đức Kế chống lại luận điệu dối trá ấy bằng bài viết “Nền quốc văn và Luận chính học cùng tà thuyết”.Cụ Nghè Ngô vạch đúng tim đen nên một thời gian dài Phạm Quỳnh yên lặng. Sáu năm sau, cả nhà báo Phan Khôi trên báo Phụ Nữ Tân Tăn ở Sài Gòn và nhà báo Huỳnh Thúc Kháng trên báo Tiếng Dân ở Huế lên tiếng sự yên lặng của ông Quỳnh. Thế là cuộc tranh luận có tiếng vang trong khắp nước bởi ba nhà báo tiếng tăm và sắc sảo của các tờ báo lớn trong nước thời ấy. Và hơn mười năm sau (1941), lại hai nhà báo gốc Quảng này lại bắt bẻ lẫn nhau về chuyện “thơ mới” được đăng tải trên báo Tiếng Dân và Dân Báo. Chính vì lẽ đó mà công luận chú ý “giọng nói” của hai ông và người ta nghĩ rằng người Quảng Nam có tính “hay cãi” (điều đáng nói là Phan Khôi là học trò cũ của người đồng chí cụ Huỳnh là Trần Quý Cáp, “thơ mới” đã thắng không phải là lý lẽ tranh luận mà là đỉnh cao của những tác phẩm giàu sức truyền cảm của nhiều thi sĩ tài năng).

 

Sách Đại Nam nhất thống chí triều bản Tự Đức viết về phong tục Quảng Nam: “… học trò chăm học hành, nông dân chăm đồng ruộng, siêng sản xuất mà ít đem cho, vui làm việc nghĩa và sốt sắng việc công. Quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh, tiểu nhân khí khái mà hay kiện tụng…” Và trong Đại Nam nhất thống chí triều Duy Tân lại nhận định: “… sĩ phu có khí tiết cứng cỏi bạo nói, nhưng vì thổ lực không hậu mà thế nước chảy gấp nên tính người hay nóng nảy, ít trầm tính, duy có người nào có học vấn uyên thâm mới không bị phong khí ràng buộc”.

 

Thế đấy, Quốc sử quán triều Nguyễn đã nói về cốt cách của người Quảng Nam là “ người trí thức có khí tiết cứng cỏi, bạo nói, tính tình nóng nảy; người ít học ưa kiện tụng” chứ không phải “cãi” kiều ba phải, “cãi chày cãi cối”, “lý sự cùn” như một số giai thoại tiếu lâm tếu táo kể với nhau cho vui tai. Từ vụ kiện tụng “xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế” (chữ của Huỳnh Thúc Kháng) ở một huyện dẫn đến sự kiện lớn khắp tỉnh Quảng Nam  vào đầu thế kỷ XX được xem là cuộc biểu tình vĩ đại của quần chúng mà nhiều nhà sử học gọi là cuộc “dân biến ở miền Trung ”, là “sự thao diễn” với quy mô lớn nhất trong lịch sử dân tộc đòi dân quyền và là “cuộc đấu tranh chính trị bất bạo động, có tầm mức quan trọng từ trước chưa từng thấy ở Việt Nam” (dẫn theo Thạch Phương, Cái chết của người Quảng Nam). Khởi đầu là một số hào lý và trí thức của phong trào Duy tân họp với nhau trong một bữa đám giỗ ở làng Phiếm Ái; họ đã thảo đơn “xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế”. Đã có 35 chữ ký của Lý trưởng các làng, riêng Lý trưởng làng Lao Đái lén đi báo huyện. Không cần chờ đủ chữ ký, ngày 13-11-1908, hơn 400 người dân Đại Lộc đã đề đơn lên Tri huyện nhờ “quan trên xin giúp việc giảm thuế”. Quan chạy xuống tỉnh, đến Vĩnh Điện (tỉnh lỵ Quảng Nam lúc bấy giờ), dân Điện Bàn hưởng ứng thêm và kéo về Tòa công sứ ở Hội An, số người tham gia đến hàng vạn trải dài hàng chục cây số. Từ một vụ kiện ở huyện Đại Lộc đã nhanh chóng lan ra khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam và trở thành “phong trào chống thuế” khắp 10 tỉnh Trung Kỳ, kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1908, khiến thực dân Pháp khiếp đảm, chúng ra sức đàn áp và khủng bố trắng, nhiều sĩ phu bị kết án tử hình Trần Quý Cáp, Ông Ích Đường… ở Quảng Nam; Lê Khiết, Nguyễn Bá Loan… ở Quảng Ngãi; Trịnh Khắc Lập, Nguyễn Hàng Chi… ở Hà Tĩnh v.v… và hàng trăm người người bị tù đày ở Hội An, Lao Bảo, Côn Đảo… như Phan Châu Trinh, Nguyễn Thành, Huỳnh Thúc Kháng, Châu Thượng Văn, Đỗ Đăng Tuyển…).

 

 

 

Quả thực lịch sử đã ghi nhận nhiều danh nhân và nhiều con dân đất Quảng đã “cãi” đến nơi đến chốn và “kiện tụng” vì lý lẽ của mình trong thời cuộc nhất định. Nhưng điều ấy không phải riêng cho vùng đất Quảng Nam. Bởi lẽ, từ xưa cụ Chu Văn An (? – 1370), người làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàn (nay thuộc Hà Nội) đã từng dâng sớ lên vua Trần Dụ Tôn xin chém 7 tên lộng thần – có thể xem “Thất trảm sớ” của cụ Chu là bản tuyên ngôn khí tiết đầu tiên của kẻ sĩ trước thời cuộc đầy u ám, trước triều đại mạc vận. Cao Bá Quát (1808 -1855), người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội) đã nhiều lần không tiếc lời châm biếm, đã kích vua tôi triều Nguyễn, sau theo cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Cự, bị Tự Đức tru di tam tộc. Hay như Tiến sĩ Phan Đình Phùng (1843 – 1896) người Hà Tĩnh nổi tiếng thẳng thắng và liêm khiết, thời ông làm Ngự sử ở Đô Sát viện chưa bao giờ bỏ qua việc xấu nào dù là nhỏ nhất, nên từ vua đến quan không ai ưa, nhưng ai cũng kính nể ông. Có lần trước đông đảo bá quan văn võ, ông đã lớn tiếng mắng đại thần Tôn Thất Thuyết về việc không tuân theo di chiếu của vua Tự Đức mà tự tiện bỏ Dục Đức, nên bị giam vào ngục rồi cách chức đuổi về làng (Tôn Thất Thuyết chưa bao giờ dung tha cho một ai chống lại ý tưởng của mình, thế nhưng không chém Phan Đình Phùng vì biết Phan là người đứng về phe chủ chiến). Sau khi vua Hàm Nghi ban hịch “Cần Vương”, Phan cùng một số văn thân đến yết kiến nhà vua và Tôn Thất Thuyết, sau trở thành thủ lĩnh của phong trào Cần Vương cùng với Cao Thắng sau khi Hàm Nghi bị bắt. Và Nguyễn Hàng Chi (1886 – 1908) cũng là người Hà Tĩnh, vốn hay chữ nhưng không thèm thi cử. Ông vốn là người chịu ảnh hưởng của phong trào Duy tân, nên khi nghe tin vụ “xin giảm nhẹ sưu thuế” ở Quảng Nam, ông giả làm người đi bán quế đi lại nhiều nơi trong tỉnh để vận động và phát tờ “Thông tri” do chính ông soạn thảo với nội dung: “Đáng yêu thay dân Quảng Nam; Đáng kính thay dân Quảng Nam; Đáng học thay dân Quảng Nam…” được truyền bá rộng rãi và dấy lên cuộc “xin sưu” rầm rộ khắp Hà Tĩnh, sau bị khủng bố thì ông tự nhận trách nhiệm tất cả thuộc về mình và bị chính quyền thực dân hành quyết sau thành Hà Tĩnh… Đó có phải là những cuộc “cãi vã” có tính thời đại của các con người trước thời cuộc đen tối hay không?

 

Chuyện “cãi” không riêng gì cho người Quảng Nam mà cho tất thảy những người có ý thức cho lời lẽ và hành động của mình. Mong rằng lời lẽ và hành động của mỗi người thật đúng.

 

Phan Thanh Minh