Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

ĐỖ THƯỢNG THẾ: Sợ vần điệu ngọt ngào ràng buộc

 

                                                                      PHAN CHÍ ANH (thực hiện)

 

Đỗ Thượng Thế quê Đại Hồng, Đại Lộc (theo quê mẹ), Hội viên Hội VH-NT Quảng Nam. Hiện nay là giáo viên giảng dạy Mĩ thuật và ở tại Điện Bàn. Đã xuất bản tập thơ “Trích tôi”,  NXB Hội Nhà văn, 2009. Thơ in chung và được chọn trong nhiều tuyển tập Trung ương và địa phương, đăng tải nhiều báo, tạp chí, trang mạng trong và ngoài nước. Đỗ Thượng Thế đã đoạt nhiều giải thưởng thơ. Trong đó, giải B báo Mực Tím; giải C tạp chí Văn nghệ Quân đội; tặng thưởng VH-NT Đất Quảng 2009 (với tập thơ Trích Tôi); và một số giải thưởng thơ của các báo, tạp chí Chuyên ngành và của ngành Giáo dục.

 

Trở về từ Hội nghị Nhà Văn Trẻ toàn quốc lần thứ 8, nhà thơ Đỗ Thượng Thế mất 11 ngày “nằm lại sức”, gần 3 tuần để làm bù một số công việc ở trường và giải quyết việc nhà. Cuộc trò chuyện này được thực hiện sau khi anh vừa xong công tác tổng kết cuộc thi vẽ tranh của các em thiếu nhi quê nhà.

 

 
Đi để biết mình đang ở đâu

 

Lần thứ 2 được đi dự Hội nghị Nhà văn trẻ toàn quốc, cảm giác của anh thế nào?

 

Khi được chọn làm đại diện cho Văn trẻ Quảng Nam đi dự Hội nghị, vui thì vui thật nhưng cứ thấy băn khoăn. Nhiều tác giả trẻ ở các tỉnh khác quả thật là rất trẻ. Còn ở mình, cỡ tuổi như tôi nhìn lui thấy chỉ còn vài người... Thêm nữa, thấy cái phận “tỉnh lẻ” của mình hình như bị thiệt thòi nhiều quá...

 

Ví dụ?

 

Các sân chơi văn học trẻ, các cuộc hội thảo tác phẩm và chuyên đề, việc xuất bản các tác phẩm trẻ, PR văn học... ở mình rất ít, nếu không muốn nói là không có. Việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tố trẻ hình như cũng không được thường xuyên...

 

Đây là một vấn đề không phải của riêng Quảng Nam đâu, chắc còn phải bàn nhiều. Nhưng đi dự Hội nghị mấy ngày, lẽ nào chỉ “được” bấy nhiêu?

 

Thật ra, đến với Hội nghị, tôi cảm thấy tự hào khi mình là thằng đến từ Quảng Nam. Lý do: Anh em văn nghệ các nơi "nhìn" về Quảng Nam, nhất là về văn học nói chung và thơ nói riêng, khá trân trọng những cây bút thuộc nhiều thế hệ đi trước. Riêng tôi, tôi tự thấy mình... cũng được, không phải vì có dăm tác phẩm được anh em xa gần nhắc đến, mà được là mình đã thể hiện hết mình khi có thể. Thêm nữa, bước vào các buổi giao lưu, hội thảo cỡ lớn ấy, mình có thêm cơ hội để trước hết là nhìn lại, xem mình và thơ mình đang ở đâu.

 

Vậy, bây giờ anh thấy thơ anh đang ở đâu?

 

Tôi đã đánh cuộc đời mình với thơ. Nó là con đường, dẫu biết rằng có thể tôi sẽ không đi đến đâu, nhưng tôi thật sự tự tin và bước tới.

 

Nếu có thêm một Hội nghị tương tự và nếu lại được cử thì anh có đi nữa không?

 

Đi chớ. Đi để biết mình đang ở đâu...

 

 
Sợ vần điệu ngọt ngào ràng buộc...

 

Có người nói thơ Đỗ Thượng Thế là “thơ rock”, khó đọc, khó hiểu, anh nghĩ sao?

 

Tôi có nghe, có biết và ít nhiều cảm thấy thú vị vì điều đó.

 

Nghĩa là anh cũng thích nó khó đọc, khó hiểu với nhiều người?

 

Với tôi, thơ thì phải nói cái không thể nói nên lời. Tôi rất sợ bị vần điệu ngọt ngào ràng buộc, phỉnh phờ, lừa mị mà sinh hạ những câu thơ ẻo lả, điệu đàng. Và có khi không chịu bằng phẳng, cứ chói gắt, thô nhám... là những gì tự nhiên tương thích với những bộc bạch, giãi bày. Còn nói thơ khó hiểu, thì thơ vốn đâu có dễ hiểu và... để hiểu. Thật ra, tôi không cố ý định ra những thách thức, những sự khó hiểu, càng không thích lạm dụng ngôn ngữ lập lờ, mông lung, đánh lận... Cái gọi là khó hiểu phải chăng là do một số đối tượng người đọc nào đó ở tâm thế khác, hoặc giữa họ với tôi chưa hợp nhau nhiều ở việc khai phá những vùng đất mới, vận hành theo cảm thức và hình thức mới để chuyển tải nội dung đời sống mới - theo nghĩa rộng, của thơ.

 

Tức là, ở một góc độ nào đó, thơ anh không dành cho... đám đông?

 

Như tôi vừa nói, thế giới độc giả bao giờ cũng rất đa dạng, nhất là trong tình hình đổi mới văn học hiện nay. Nếu với sự nỗ lực hết mình mà có được dẫu không nhiều những đồng cảm thì cũng quý lắm cho người cầm bút như tôi. 

 

Anh có nghĩ anh là một giọng thơ lạ của Quảng Nam?

 

Có dịp tiếp xúc với anh em văn nghệ nhiều nơi trên cả nước và qua tìm hiểu, tôi có được thông tin rằng đa số cây bút thơ Quảng Nam có giọng lạ. Dẫu không hề có tính “bầy đàn”, ồn ào, hay “ăn theo”... nhưng có một sự lặm đợm khó lý giải, có cốt cách, mang một “thổ nghi thơ” rất chi là Đất Quảng. Thú thật, tôi tự hào mình là người cầm bút Quảng Nam.  

 

Anh quẫy đạp và “định giọng” cho mình thế nào trong “thổ nghi thơ” ấy?

 

Tôi nghĩ mình chỉ có chút "giãn nở" biên giới của thử nghiệm cho thơ mà thôi, biểu hiện ở đề tài, vùng thẩm mĩ, thi liệu, cách thức biểu đạt...

 

Trong tập thơ “Trích tôi” do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2009 của anh, hình như sự “giãn nở” ấy đã được thể hiện khá rõ. Phần mình, anh tự nhận thấy đã “trích” được gì từ mình, “trích” được gì cho thơ?

 

Chỉ là định lượng nào đó cho cả hai. Tôi đã trích những điều muốn nói, nói về cái không thể nói, nói về cái ngoài lời... Còn nói trích cho thơ, thì tôi tự thấy cũng có chút “muối” trên “ruộng muối”, nhưng độ mặn của nó chưa gọi là cao. Còn phải tiếp tục nỗ lực gấp bội lần. 

 

Anh là nhà giáo giảng dạy Mĩ thuật, nhưng hình như trong thơ anh ít thấy bóng dáng của nghề nghiệp như một số người khác?

 

Người xưa nói “Thi trung hữu họa” nên tôi yên tâm nghề nghiệp của mình đã sẵn có trong thơ.

 

 
Thơ không cô độc

 

Anh có thích cái gọi là thơ hậu hiện đại, tân hình thức không?

 

Thú thật tôi có thích, nhưng không hẳn là hoàn toàn. Trên hành trình sáng tạo, ai cũng thích cái mới và hiện đại. Tìm tòi, thể nghiệm, đổi mới là nhằm tạo nên một bước ngoặc mới, mang lại dòng chảy mới làm cho nền văn học phong phú và đa dạng hơn. Tôi rất chuộng các phong cách đặc thù và một số thủ pháp của nó. Tuy nhiên, thơ hậu hiện đại hiện nay của chúng ta, tôi nghĩ hình như vẫn còn nhập nhằng, giả hiệu, có gì đó chưa ổn.

 

Theo anh, đó là gì?

 

Không dễ để nhận ra đâu. Riêng tôi thì cho rằng thơ là trò chơi nghệ thuật, người làm thơ cần phải biết mình, cần phải thận trọng, nghiêm túc với mình và với (nghề) thơ; không thể xem thơ là trò chơi đơn thuần giải trí... Trong bối cảnh thơ ca hiện nay, cần có cái nhìn chân xác, đúng mực để nhận ra... Nhưng cũng cần nói thêm là, chúng ta nên yên tâm, vì trên dòng chảy định mệnh của thơ luôn có người sáng tạo ra nó và luôn luôn có người thưởng thức nó. Đừng nghĩ rằng thơ đang cô độc. Tôi có một đơn cử nghe khó tin, nhưng thật 100%, là không ít người nông dân chân lấm tay bùn, có người tuổi tác “xuôi gần cuối dốc”, như cha mẹ tôi chẳng hạn, vẫn rất thích đọc thơ và thậm chí thuộc thơ của Vi Thùy Linh, kể cả thuộc ca từ các tác phẩm âm nhạc của Lê Cát Trọng Lý nữa… Bây giờ, người đọc cũng đã quan tâm người làm thơ viết như thế nào nhiều hơn là viết cái gì...

 

Được biết gần đây anh có thử “phổ” văn xuôi thành thơ. Đây chỉ là trò chơi vui hay là một việc làm nghiêm túc?

 

 

Đỗ Thượng Thế

 

viết lúc Thầy lên cơn đau dạ dày

 

cơn giấy trắng nói mê

sông kia bao mái đầu

tiếng gọi bến bờ

cầu vồng chết đuối

 

 

khuyến cáo những ngọn gió mang lời Thánh

mọt sách no tròn mặt trời

chưa từng trang ngộ độc

 

 

nhặt những cánh hoa

lẽ ra là hoa

khai nở bục danh dự

 

 

rượu với bão chướng

kẻ sập trời

kẻ động đất

xác ánh đèn phố bụi…

ngồi vượt lên khuôn chữ

cạn tận cùng những ngọn lửa

                                 những không lời kết tụ

 

 

chôn vào lặng thẳm

ngọn sóng thét

ánh mắt cúc dại ngây ngô gai độc

những đám mây phập phù mùa đông

ngày lá trút và đêm bọt lạnh

ai bảo không nát ruột?

                                   

                                 Đ.T.T

 

 

Thật ra, tôi không bị thách thức bởi câu nói vui trong những lần trà dư tửu hậu: “Mấy ông văn nghệ Điện Bàn/ Văn xuôi chặt khúc xuống hàng… thành thơ”. Có thể nói, việc tôi làm cũng là trò vui thôi nhưng lại... hoàn toàn nghiêm túc. Thiết nghĩ, không những tôi cũng như nhiều anh em văn nghệ Điện Bàn mà còn nhiều anh em cầm bút khác đã ý thức rằng, “Tập hợp thơ không bao gồm tập hợp những câu văn bị bẻ gãy và xuống dòng liên tục, tùy tiện và ngược lại” (P.K, Siêu hình học của thơ). Việc tôi “phổ” văn xuôi thành thơ có phần giống như việc các nhạc sĩ đem thơ phổ nhạc vậy. Ở đây, trên cái nền của văn xuôi, khi xét thấy có một vài yếu tố của thơ rồi, nghĩa là nó gần thơ, thì việc “chặt khúc xuống hàng” chẳng qua là việc chuyển đổi hình thức cho nó. Và hơn thế, ở đấy còn là sự đồng cảm, cộng cảm giữa văn xuôi và thơ khi muốn nói những điều cần nói...       

 

Nếu được, anh có thể tặng bạn đọc Báo Quảng Nam một bài thơ anh “phổ” từ văn xuôi?

 

Được thôi, một bài Haiku nhé, tôi “phổ” từ tựa đề của 3 cái tản văn trong tập tản văn thanh hoa của nhà báo, nhà thơ Phan Chín:

 
                                                     Ếch

                                                     Nghe mưa

                                                     Đặc sản.

   

                          

 

 

 

-------------------

Nguồn: Báo Quảng Nam Cuối tuần, số ra ngày 18/11/2011.

Lên sóng lúc 22:00 ngày 18.11.2011