Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

ĐỌC "GÁC CHÂN LÊN CÔ ĐƠN" - Huỳnh Minh Tâm

 
 

         ĐỌC “ GÁC CHÂN LÊN CÔ ĐƠN”

 

( “ Gác chân lên cô đơn”-Tập truyện ngắn-Phê bình của Trương Vũ Thiên An,

                                                                                                         Nxb Hội Nhà văn 2013)

 

      Lâu lắm rồi, tôi biết đến Trương Vũ Thiên An qua một bài tiểu luận rất hay, chân thực, trong sáng và ấn tượng: “ Thử một lần đối diện với thơ và con-người-thơ Bùi Giáng” của anh. Vì tâm đắc với bài viết ấy, mà khi gặp anh trong Hội Văn nghệ Đất Quảng là cảm thấy thân thiết đã lâu rồi. Sau đó thì anh có thơ cũng thường xuyên đăng trên tạp chí Đất Quảng, rải rác một vài truyện ngắn và một ít tiểu luận phê bình. Anh làm nghề giáo, học trường trại bài bản về văn chương, tên thật là Trương Văn Quang, gốc Huế

 

      Có lẽ ấp ủ đã lâu, và nghiệp văn chương cũng đã dày, và “ gác chân lên cô đơn” một mình cũng đã dài, đời người có hạn, cô đơn âu sinh bệnh, nên vào những tháng cuối năm 2013 anh cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn-phê bình: “ Gác chân lên cô đơn”, như tìm một sự đồng cảm và chia sẻ

 

     Chắc hẵn bạn đọc ai cũng biết, truyện ngắn là một thể loại văn học rất khác biệt so với phê bình văn học. Đại khái tựa như truyện ngắn viết về những cảm xúc, tâm sinh lý, ý chí, hoạt động của căn bệnh trong con người; còn phê bình tựa như một bác sĩ, làm việc có dao kéo, có máy móc, có khoa học để tìm ra bệnh trạng, hiểu được, giải mã được bệnh trạng ấy. Bởi vậy khi đọc tập; “ Gác chân lên cô đơn” nó chia chẻ tâm trí bạn đọc, không cho bạn đọc có một cảm xúc xuyên suốt tác phẩm, hay một cái nhìn tổng quát về bút pháp, về thông điệp, về những cái chung nhất mà tác phẩm hướng đến. Vì vậy, bài viết này cũng chỉ giới thiệu một số tiếp nhận của riêng chúng tôi về một tác phẩm ít có tính định lượng mà chỉ có ý nghĩa đồng cảm và cố gắng thấu hiểu.  

    

         Về truyện ngắn, truyện “ Chị” kể về những kí ức, những gắn bó, nhũng rung động đầu đời, sum hợp và chia ly, không có một tình tiết gay cấn để dựng phim hoặc kịch. Truyện này đậm chất tản văn, văn đầy cảm xúc và nhẹ nhàng, thoang thoảng mùi hương hoa phượng hoặc hoa cải, và tôi cũng đã gặp tâm trạng này của Thiên An trong các bài thơ viết về chị với tình yêu đầm ấm và day dứt.

     Rồi “ Lửa tem” kể về một người cha chơi tem với 15 con tem có 15 nhân vật tài năng, y đức, nhưng hư thực thế nào không biết, lại có tin truyền trong đó có 2 nhân vật theo truyện là “ có quan hệ bất chính với  người bệnh là nữ giới, ép người bệnh...”đã làm giảm niềm khát vọng ‘ chơi tem” của người cha, tạo ra xung đột cha con. Tuy nhiên thông điệp mà truyện chuyển tải là: “ Tôi chắc còn thật lâu mới dám thú thật với cha là qua những tra cứu ở thư viện về lịch sử và huyền sử, tôi đã biết cũng như cha là các vị đại phu bị xử oan! Bộ Thập Ngũ Đại Phu bị đốt là oan! Lần đốt đầu là oan. Nhưng lần cháy thứ hai do chính tay tôi đốt là...đáng tội! Bởi quá khứ dù có lỡ bị đốt cháy đi nữa thì quá khứ cũng không được làm bỏng sém đi lòng tin của con người vào hiện tại”.

      “ Nước mắt biển” hẵn là đề tài quen thuộc và những trăn trở rất thường gặp của những thầy giáo, cô giáo. Truyện kể một người thầy giáo có bản lĩnh và tình yêu thương, lòng tin đối với học trò, đã nhận một học sinh cá biệt, một “ đại ca” vào lớp mình đang chủ nhiệm có tiếng. Thế là từ đó thầy, trò, lớp, trường nổi bão tố phong ba, bao nhiệu thi phi oan ức không thể hiểu được xãy ra. Kết truyện có hậu là: “ Thưa thầy, không ai tin em cả. Có một gã học trò đã nói, đã kêu lên với thầy mình như thế trong một đêm biển gào thê thiết. Và gió thì ì oặt van nài nỗi sầu không trú xứ. Có một người thầy lòng đau như biển, cứ mường tượng cảnh mình dắt díu một đoàn còng lúi ríu chen chúc bên bờ biển sụt sùi bọt nước. Đoàn còng có thật và nhỏ bé trước mênh mang. Nhưng đâu là câu chuyện về một con còng đã tách bầy và bể vỡ”. Đoạn này như một khúc bi ca về tình yêu con người, đọc rất cảm động, văn hay, đầy hình ảnh.

       “ Trăng thượng huyền” như một bài thơ hai ku kéo dài một chút, một chút nữa. Truyện chỉ gợi, bên một chén trà, vị sư già và thằng bé ngơ ngác bàn luận về chuyện huyền vi cuộc đời với hai tâm trạng lãng đãng, mênh mang, giàu xúc cảm với hình ảnh uốn lượn một mảnh thượng huyền vô ngôn-một kỷ niệm xác tín tình yêu?

        Ngoài ra còn có: “ Thế cờ đi hậu”, “ Người em phiêu dạt”, “ cô Mười’, “ cây mai ông ngoại”...Mười bảy câu chuyên trong tập là mười bảy tình huống thật đơn giản, không nhiều kịch tính, nhưng rất nhiều tâm trạng và oan ức, cần chia sẻ, và những bài học đắt giá, hoặc những giá trị nhân bản cần gìn giữ. Bút pháp chỉn chu, mực thước, không có nhiều từ lóng, từ chợ búa, thô tục như cuộc đời hoặc như một số xu thế truyện hiên nay. Dường như tính cách là một nhà giáo “ gương mẫu” không cho anh tiếp cận với những cuộc đời dưới đáy xã hội đỉ điếm , chợ búa, như Chí Phèo, nên các nhân vật trong truyện cũng rất hiền lành, nhân ái. Chính vậy chăng nên anh cũng ít chú ý xây dựng cốt truyện một cách hấp dẫn hơn, nhưng mặc mạnh của anh là ngôn ngữ anh dùng thật trong sáng, nhiều từ mới so với thể loại truyện, có tính hóm và đẹp, rất ấn tượng

 

     Về phê bình, ngoài bài như chúng tôi đã nói phần đầu là: “ Thử một lần đối diện với thơ và con-ngươi-thơ Bùi Giáng” thật đặc sắc, ở chỗ hết sức chân thực, anh viết “ có lúc tôi cũng bật cười để tha thứ cho cái-chưa-tới của mình và để cho cái ngẳng đời rất có duyên của Búi Giáng”. Rồi từ cái “ khiêm tốn lễ độ hồn nhiên trên”, anh đã “ phán”, đúng với chất văn nghị luận là: “  Bùi Giáng là người đã dám cà ngẳng trong thơ, cái kiểu ông địa trong thơ mà được nhiều người chấp nhận”. Hoặc anh đã giải mã: “ Nhìn em vô hạn bùi ngùi/  nhìn tôi vô tận chôn vùi tình điên. Đó là cái điên của một con người đã hồn nhiên tin rằng cuộc đời là một cuộc chơi, sống ở đời chẳng qua cũng chỉ là làm một cuộc ngày tháng ngao du. Bùi Giáng đã ngao du trong thơ và cả trong đời, tung phá tất cả cái ước lệ làm người, làm thơ. Ông đã phá chấp một cách vô thức, do vô thức trong phá chấp mà phá chấp trở nên thành thật và mãnh liệt đến da diết” Bài này dài và hay, nhiều đoạn có cảm giác Thiên An viết như lên đồng. Đọc sướng lắm. Nói thật sau này anh viết phê bình tiểu luận cũng nhiều, nhưng sự tự tin, trong sáng, mãnh liệt dường như giảm đi rất nhiều, đôi khi làm chúng tôi thất vọng.  

       Ngoài ra còn có những bài như: “ Bước hoàn lương của Chí Phèo dưới cái nhìn lạnh lùng của Nam Cao”, là tác giả bình luận cho vấn đề đã đặt ra, để làm thấu đáo, như một bài giảng, một luận văn. Đôi đoạn anh viết: “  Chí Phèo của Nam Cao quá mong mỏi một khát vọng hoàn lương. Song, ước mơ đó, khát vọng đó đã được nghiền ngẫm, suy tính lợi hại...không hoàn toàn theo kiểu con người hoàn lương bình thường. Bởi bước hoàn lương của Chí Phèo không mang màu sắc sám hối. Đó là bước hoàn lương xổi”. Nhận định thật sắc sảo nhưng chưa nhiều.   

       Hay bài “ Cõi Xuân Hương”, tác giả phóng bút, cố gắng tìm hiểu một nhân cách thi nữ kỳ dị thông minh, văn thi tài năng đáo để: “ Rất nhiều lần trên đường đời tấp nập, Xuân Hương đã bước những bước sải phóng túng, nổi loạn bất chấp kích thước chật hẹp của một thời đại phong kiến suy tàn. Con người ấy đã xông xáo, khát khao đi tìm một tình yêu, một hạnh phúc cho chính cuộc đời mình và đã không tìm gặp được” “ Lời tự tình buồn . Nhưng sợ rằng ta thật thà ghi nhận Xuân Hương buồn, Xuân Hương khổ thì biết đâu với cá tính và phong cách ấy, Xuân Hương lại chẳng trách cứ “ Nín đi kẻo thẹn với non sông”. Một lối nhìn thông thoáng tự do.

      Phần này có tới 16 bài, như “ Cô đơn không vách” giải mã lão Hạc của nhà văn Nam Cao, “ Mùa xuân trong mắt nhìn của Nguyễn Bính” hướng điểm nhìn xuân của nhà thơ tài hoa họ nguyễn, “ Ánh lửa thiêng cuối dòng Giang” ca ngợi vẻ đẹp của thơ Huy Cận...Bút pháp khoa học, mực thước, sắc sảo, tài hoa. Tuy vậy, có cảm giác cách tiếp cận vấn đề con cũ, chưa tiếp cận với những lý luận mới, chưa đưa ra những hướng tiếp cận mới, như phân tâm học, hậu hiện đại, môi trường học, còn xem trọng phần nội dung, ít chú ý hình thức, ngôn ngữ, cách chơi ngôn ngữ các tác phẩm, coi trọng âm điệu du dương, nhẹ nhàng. Có thể những nguyên nhân trên chăng, nên các bài của Thiên An đều giới thiệu, ca ngợi những nhà văn, nhà thơ định hình, đã nổi tiếng từ lâu, thường có trong sách giáo khoa. Hầu như chúng tôi chưa đọc được, cũng như trong tập sách không có những bài viết về những cây bút trẻ, các nhà thơ, nhà văn đang hồ hởi sáng tạo. Có lẽ chưa hợp khẩu vị của anh, hoặc là anh đang cất giấu ?

 

    Với một tập sách phong phú đề tài như vậy, chúng tôi không dám nói rằng, mình đã có những nhận định chính xác, đầy đủ . Ở bài viết này, chúng tôi chỉ hy vọng chia sẻ một phần nhỏ nhoi nào đó  tâm tình và hy vọng của tác giả đã gửi gắm bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Bởi tác giả đã “ tự trào” và cũng “ lẻm’ “ Gác chân lên cô đơn” cho có vẻ phong lưu đường đột. Mà quả thật gấp tập sách lại, chúng tôi mới chợt nhận ra cả mình cũng cô đơn quá thể. Bởi chợt nhận ra rằng, trong tập sách, nỗi cô đơn của các nhân vật, của tác giả, của bạn đọc vẫn lởn vởn lờn vờn ở đâu đó bằng ngôn ngữ hoặc không khí mà câu chuyện tạo ra. Mặc dầu những câu chuyện của Thiên An vẽ nên không có tính thời sự nóng nổi gì cho lắm, nhưng cái cô đơn ấy là có thật , là rất thời sự với mỗi con người chúng ta, hay gặp nhất là những người hay lo nghĩ, và hay lo nghĩ nhất là thầy cô giáo. Chúng tôi hy vọng tập truyện ngắn-phê bình đem đến một nguồn an ủi, một lời động viên tích cực cho tâm hồn bạn đọc đôi khi bị đau khổ và cô đơn.

 

 

HUỲNH MINH TÂM

 

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ, Đại Lộc, Quảng Nam