Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

ĐỔI MỚI THƠ & NHỮNG ĐIỀU NGỘ NHẬN

                       VƯƠNG TRỌNG




    Nhà thơ nào cũng muốn thơ mình sống lâu trong lòng bạn đọc, thơ mình có giọng điệu riêng, thậm chí không ít người còn mong muốn mình là người khởi xướng ra các trường phái. Bởi vậy đổi mới thơ, làm cho thơ mới mẻ hơn, hay hơn là mong muốn chính đáng của nhà thơ. Tuy nhiên thơ là loại hình nghệ thuật ra đời rất sớm, nền thơ của nhân loại cũng như của dân tộc đã có bề dày hàng ngàn năm, nên đổi mới không dễ. Tôi quan niệm rằng, sự tìm tòi đổi mới nào có tác dụng bồi đắp cho nền thơ vốn có dày dặn thêm là sự đổi mới có giá trị, còn những ai nhân danh đổi mới để phủ định nền thơ đã có, coi như từ họ trở đi mới có thơ thì chính họ là người phá thơ, cái họ viết không liên quan đến thơ nên không thể dùng ba chữ “đổi mới thơ” được.
  Sự đổi mới thơ trong một phần tư thế kỷ qua có những thành tựu đáng kể: thơ được hướng nội hơn và dấu ấn của mỗi nhà thơ rõ nét hơn trong tác phẩm của mình. Dung lượng vấn đề này đủ cho các công trình nghiên cứu dày dặn hoặc các luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ. Ở đây tôi không đi vào nội dung ấy mà chỉ đề cập tới những điều ngộ nhận trong giai đoạn này.

     Đổi mới không chỉ có nội dung là khác trước, mà còn hàm nghĩa tốt hơn, hay hơn. Đổi mới đúng nghĩa như vậy thật không dễ chút nào, nó đòi hòi người muốn đổi mới phải thấu đáo những gì đã có và có năng lực phát hiện ra những hạn chế, ràng buộc  cái cũ, đồng thời có sức sáng tạo, đề xuất ra cái mới. Trong thực tế khả năng những người muốn đổi mới thơ có được như vậy không nhiều, một số người chỉ cố cho thơ mình khác lạ, chứ không suy xét đến hiệu quả của cái khác lạ đó đem lại cho bạn đọc. Tôi nghĩ rằng mỗi thế hệ nhà thơ nên nói đúng điều mình nghĩ, đó là nội dung, còn hình thức thì biểu đạt thế nào mà mình cho là hiệu quả nhất, làm như vậy mà thơ mình có nét mới thì cái mới ấy có giá trị đóng góp cho nền thi ca. Còn những ai chỉ cố viết cho khác những người đi trước, thì cái khác ấy phần nhiều không phải là cái mới mà bạn đọc mong đợi.

  Trong thực tế có nhà thơ đổi mới thơ bằng cách nói ngược. Đổi mới kiểu này thật dễ, chẳng phải suy nghĩ gì nhiều, chỉ cần lật ngược lại những thứ đã quen tai. Cách làm này có thể có hiệu quả khi thứ quen tai từ trước không còn đúng với hiện tại, nhưng tiếc thay, họ nói ngược cả những thứ đã thành  đạo đức, lương tâm như tình mẫu tử, tình quê hương đất nước và những quan niệm về cái thiện và cái ác. Có người làm thơ ca ngợi Cám, lên án Tấm, khen Lý Thông, chê Thạch Sanh…Đành rằng cách cư xử của cô Tấm trong chuyện Tám Cám, không phải mọi thứ đã hay, đã đúng, nhưng đó không thể là lý do để cho cô Cám lên ngôi.
  Có người lại chú ý đổi mới hình thức câu thơ bằng cách phá vỡ cấu trúc câu. Đành rằng thơ không đòi hỏi ngữ pháp như văn xuôi, câu thơ không cần có đủ các thành phần của mệnh đề và có khi cho phép nhà thơ nói tắt. Điều này từ xưa các nhà thơ đã từng làm, như trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:
Đêm khuya, thân gái, dặm trường
Phần e đường sá, phần thương dãi dầu

là thi hào tung ra một loạt danh từ và một câu không có chủ ngữ để người đọc hình dung ra hoàn cảnh cái đêm nàng Kiều trốn ra khỏi Quan Âm Các mà cảm thương nàng. Hay như sau khi nghe chuyện Thuý Kiều trao duyên cho Thuý Vân, Vương Ông nói:
Vì cha làm lỗi duyên mày
Thôi thì sự ấy sau này đã em

đã em tức là nói tắt đã có em, ai cũng hiểu điều đó.

Thế nhưng trong thời kỳ đổi mới vừa qua, có nhà thơ viết: “Anh mi ni em” rồi giải thích đó là nói tắt mệnh đề “anh lai em bằng xe đạp mi ni” đã thách đố người đọc, nhưng vẫn ít nhiều có lý, còn đến câu “ Anh tiết canh em” thì thật khủng khiếp và không ai có thể hiểu được như lời giải thích của tác giả rằng  câu ấy có ý “anh và em cùng ăn tiết canh”!
   Có người quan niệm rằng những gì có trong đời thì cũng có trong thơ nên họ đưa vào thơ các thứ bẩn thỉu tục tĩu, những danh từ chỉ bộ phận trong cơ thể người mà ngay một bác sĩ giãi phẫu cũng tránh né…và coi rằng mình là người tiên phong, vì từ cổ chí kim ai làm nổi! Cần phân biệt sự khác nhau giữa không làm nổi và không làm đối với người có văn hoá và thấu đáo phong tục, tập quán của dân tộc mình.

   Tuổi trẻ thời nào cũng có thế mạnh nhưng sự sinh sau không có ưu thế gì đáng kể trong thơ. Cần lưu ý rằng các nhà thơ lớp trước cũng từng qua một thời tuổi trẻ. Tôi nhớ trong buổi liên hoan nhân lễ tổng kết cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1969, nhà văn Nguyên Hồng nâng cốc chúc mừng và gọi những người được giải chúng tôi là những “tân khoa trẻ tuổi”. Nhà văn động viên rằng, còn trẻ mà đã đạt được thành tích như thế này thì tin chắc con đường sáng tác văn học rộng mở. Nhưng sau đó ông nói tiếp: “ Nhưng các anh đừng nghe thế mà chủ quan, trẻ nhất trong số tân khoa là anh Bế Kiến Quốc thì cũng đã 21 tuổi, còn lâu mới trẻ bằng anh Chế Liên Viên khi viết Điêu tàn và tôi viết Bỉ vỏ, vì chúng tôi còn vị thành niên, mới 16 tuổi”. Lời nói của nhà văn Nguyên Hồng còn có giá trị dài dài, vì nó nhắc nhở các bạn viết trẻ một điều: tài năng tuổi trẻ không phải là đặc ân của thời hiện tại.
  Thơ ca không phát triển tỷ lệ thuận với khoa học và kỹ thuật, bởi vậy, thế hệ @ trong thi ca không nói lên gì nhiều ngoài việc tác giả có thể sáng tác bằng computer và gửi bài qua email. Với thơ, những đỉnh cao trong quá khứ mãi còn sừng sững phía tương lai.

  Dùng thuật ngữ đổi gác, hoặc thay ca để chỉ sự bàn giao giữa các thế hệ nhà thơ là không chuẩn xác. Sự thật, các thế hệ nhà thơ nối tiếp nhau một cách liền mạch, không có khớp nối, các thế hệ trước, sau cùng sáng tác trong một khoảng thời gian dài, thế hệ sau tiếp nhận những kinh nghiệm, thành quả của thế hệ trước, đồng thời thế hệ trước cũng mới mẻ thêm nhờ cách nghĩ của thế hệ sau, chẳng có cuộc bàn giao rõ ràng nào xẩy ra ở đây. Ví như Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc đổi thay chính trị cực lớn, thế nhưng Thơ Kháng chiến không phải chỉ do thế hệ nhà thơ xuất hiện sau Cách mạng tạo nên, mà có sự đóng góp rất đáng kể của các nhà thơ tiền chiến, rồi các thế hệ trước- sau Cách mạng ấy cùng chung sức mà làm nên diện mạo Thơ Kháng chiến như ta từng biết. Ngay cái mốc năm 1945 mà cũng không có sự thay ca, đổi gác nào giữa các thệ hệ người làm thơ, thì vào những thời điểm khác trong lịch sử từ năm 1945 đến nay, khái niệm thay ca, đổi gác ấy làm gì tồn tại được.

   Cách đây không lâu có nhà phê bình quan niệm rằng: thơ không cần phải hiểu! Ôi, nếu như phê bình có chức năng dắt dẫn sáng tác thì lý luận này sẽ dắt nên thi ca đi đến nơi đâu? Và sự thật, trên báo chí và sách in, đã xuất hiện loại thơ đó. Thơ mà không cần phải hiểu thì cũng chẳng cần có nội dung! Nói điều gì và nói như thế nào là nội dung và hình thức của thơ nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung, nếu thiếu một trong hai thứ đó thì chưa thành tác phẩm. Con thuyền dù sơn son thếp vàng nhưng không chở được gì thì cũng trở nên vô dụng trong ý nghĩ của những người dân chờ hàng cứu đói. Thiếu nội dung, thơ đối với bạn đọc cũng thế.
  Làm thơ mà không để cho người đọc hiểu thì thiệt thòi trước nhất là thuộc về người sáng tác, bởi tác giả đã sản ra cái công vô ích, chẳng thể giãi bày được điều gì. Tiếp đến là thiệt thòi cho thơ, bởi không hiểu thì người ta không đọc, người ta xa lánh thơ. Tôi quan niệm rằng, làm thơ bằng tiếng Việt, để người Việt mình không hiểu được, thì lỗi thuộc về tác giả chứ không phải bạn đọc.
  Có nhà thơ nói rằng: “Đừng đòi hỏi bài thơ nói gì, bông hoàng lan có nói gì đâu mà hương thơm ngạt ngào đến thế”!
  Nếu nói rằng, đừng đòi hỏi bức tranh ấy nói gì, mà thấy đẹp là được rồi; đừng đòi hỏi bản nhạc ấy nói gì, mà cảm thấy du dương, êm tai là được rồi…thì ít nhiều cũng có lý, còn thơ là nghệ thuật của ngôn từ, mà đã là ngôn từ thì bao giờ cũng gắn liền với ý nghĩa, nên đòi hỏi bài thơ nói gì là nhu cầu chính đáng của bạn đọc. Mầu sắc là ngôn ngữ của hội hoạ; tiết tấu, giai điệu là ngôn ngữ của âm nhạc, hương sắc là ngôn ngữ của các loài hoa. Khi ta cảm nhận hương ngạt ngào là khi hoàng lan đang “nói” với ta đấy!
    Ở làng tôi trước kia có một anh chàng bị điên, quanh người buộc các thứ dây và dắt nhiều loại lá, nhiều khi đứng giữa đường làng hoa chân, múa tay và nói huyên thiên, người đi làm đồng về đứng vòng quanh khá đông. Mỗi lúc lại có thêm “khán giả” và khi vừa mới đến thường hỏi người đến trước một câu : “ Cậu ta nói gì thế?”. Vẫn biết lời của kẻ điên là chả đâu vào đâu, mà người ta vẫn còn muốn biết anh ta nói gì, huống gì các nhà thơ!
  Lại có nhà thơ nói rằng thơ hiện nay sở dĩ không hay là vì dễ hiểu. Nói như vậy thì sự dễ hiểu là một trong những thủ phạm làm cho thơ dở! Đối lập sự hay của thơ với sự dễ hiểu là một điều ngộ nhận. Trong thơ ca nhân loại và của dân tộc, những câu hay, được các thệ hệ truyền nhau, không thấy có câu nào khó hiểu.

Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

            ( Nguyễn Du)
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung.

            ( Xuân Diệu)
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn.

            ( Chế Lan Viên)
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long…

            ( Huỳnh Văn Nghệ)
Và hàng trăm câu thơ hay từng được chọn trong các ngày Thơ Việt Nam, tất cả không có một câu nào khó hiểu. Đừng nhầm lẫn sự dễ hiểu với sự nôm na, thiếu hình tượng nghệ thuật thơ. Câu ca dao:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

thật hay và không hề khó hiểu. Còn câu:
Trời mưa trời gió đùng đùng
Cha con ông Sùng đi gánh phân trâu

không hay không phải vì dễ hiểu mà vì quá nôm na, dễ dãi, thiếu hình tượng thơ. Bảo thơ không hay vì dễ hiểu là vu oan cho sự diễn đạt giản dị, trong sáng của nhà thơ mà bao che, bênh vực cho cách viết “tung hoả mù” của một số tác giả. Lý luận “ thơ không hay vì dễ hiểu” sẽ làm cho một số người sáng tác tưởng rằng muốn thơ hay thì phải viết cho khó hiểu. Thế là, đáng ra phải tìm hình tượng thơ, phải cấu tứ, phải trau chuốt ngôn từ…thì họ lại cố viết cho thật khó hiểu, cố diễn đạt một cách rắc rối những thứ vốn đơn giản. Làm thơ kiểu này có cái lợi là chẳng cần suy nghĩ gì nhiều mà khi đọc lên cứ tưởng như có điều gì sâu xa, uyên bác, hiện đại lắm, bởi chữ trong câu và câu trong bài chẳng có điều gì ràng buộc gắn kết, từ chuyện nọ nhảy sang chuyện kia không hề ăn nhập, dẫn người đọc vào một “trận đồ bát quái”. Với các nhà thơ bình thường, khi có ý sâu sắc thì viết được bài thơ sâu sắc (được khen), khi nghĩ nông cạn thì thơ nông cạn (bị chê)… nhưng với những nhà thơ theo “trường phái” khó hiểu này thì ngay khi họ có ý tứ nông cạn, bạn đọc cũng chẳng thấy điều đó hiện lên trong thơ, nên chê thơ họ không phải là dễ!
“Dòng suối trong, nước càng trong càng thấy rõ độ sâu
Dòng suối cạn muốn doạ người rằng sâu chỉ có cách khuấy ngầu lên nước đục
Nông, sâu là ý tứ
Trong đục ấy ngôn từ
”.
Đó ý nghĩ của tôi khi đọc loại thơ khó hiểu nói trên và tin rằng tác giả của các bài thơ ấy đã học thủ pháp khuấy đục nước lên để che giấu những gì nông cạn.

   Đọc kỹ lại những bài thơ cổ điển của ta và của nước ngoài, tôi thường cố tìm nội năng nào đã cho phép chỉ mấy chục từ mà đủ sức đưa bài thơ vượt qua không gian vạn dặm và thời gian hàng ngàn năm. Và may mắn thay, thường là tôi đã lý giải được điều kỳ diệu đó, nghĩa là những bài thơ đó đã có lý do chính đáng để trường tồn. Tôi tin rằng trong hàng ngàn năm phát triển của thi ca, không phải chưa từng có những người nhân danh đổi mới, nhân danh hiện đại…cố làm cho thơ mình thật khác lạ, nhưng sự khác lạ ấy không có ích gì cho thơ, cho người đọc và đã bị thời gian “vặt lông vịt” (từ của Xuân Diệu) nên chúng ta không biết đó thôi. Còn nhìn lại một phần tư thế kỷ đổi mới thi ca của dân tộc ta, có điều đáng mừng là càng về sau, những sự ngộ nhận trong đổi mới càng giảm bớt, có nhiều nhà thơ đã tự thấy được sự vô dụng của các kiểu thơ mà họ từng thực thi hoặc cổ vũ, rồi từ bỏ nó, trở lại sáng tác theo cách coi trọng nội dung, lời lẽ giản dị, lấy sự giao cảm với bạn đọc làm mục đích. Tôi tin đó cũng là quy luật tất yếu của mọi nhà thơ, vấn đề là sớm hay muộn mà thôi.
 
NGUỒN: lethieunhon.com /12.10.2011