Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

Đời nghiệt ngã trong BẢN HỢP XƯỚNG MÙA ĐÔNG

                                                                                                              HUỲNH MINH TÂM
 
 
 
Nhạc sĩ -Nhà văn PHAN VĂN MINH
 

 

         ĐỜI NGHIỆT NGÃ TRONG BẢN HỢP XƯỚNG MÙA ĐÔNG

                                 (Đọc tập truyện ngắn BẢN HỢP XƯỚNG MÙA ĐÔNG của PHAN VĂN MINH)

 

Tác giả tập truyện ngắn “ Bản hợp xướng mùa đông” là anh Phan Văn Minh đa tài. Tên tuổi nhạc sĩ Phan văn Minh đã gắn kết máu thịt với ca khúc “ Cả nhà thương nhau” lan tỏa trong lòng thính giả  nhí lẫn già hơn hai mươi năm qua ( ca khúc đoạt giải Nhất cuộc thi ca khúc thiếu nhi toàn quốc, 1989). Rồi các ca khúc khác như: “ Khúc trầm luân giao thừa”-giải Nhất cuộc thi ca khúc về mái ấm gia đình, 2007; “ Người Quảng dáng nâu”- Giải B giải thưởng 5 năm-UBND tỉnh Quảng Nam, 2010; “ Vui hè với biển”- Giải nhì Hội Nhạc sĩ Việt nam 2010; “ Chỉ còn tình yêu thương”- Giải nhì cuộc thi ca khúc về Nạn nhân chất độc da cam toàn quốc, 2011. Không chỉ có thế, Phan Văn Minh còn viết truyện ngắn, và đôi khi ngẫu hứng anh còn làm thơ cũng đăng rải rác đây đó. Mảng truyện ngắn anh cũng đã có những thành công nhất định. Chẳng hạn : “Hội làng” Giải A cuộc thi truyện ngắn và ký của Hội Văn học- Nghệ thuật Quảng Nam-Đà Nẵng, 1989; “ Ngã ba đầu làng”- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Quảng Nam-Đà Nẵng, 1996. “ Bản hợp xướng mùa đông” là tác phẩm mới nhất của anh ở giai đoạn này, cũng là minh chứng  cho sức sáng tạo bền chắc, đa dạng, phong phú của anh trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật của tỉnh nhà- QuảngNam.

 

Đọc “ Bản hợp xướng mùa đông”, bạn đọc dễ dàng nhận ra những cảnh đời éo le, những số phận trầm luân gắn kết với những tập tục hủ lậu, những lễ nghi nặng nề cũ càng, những quan niệm, những lối sống thiếu văn hóa, thiếu lành mạnh, không phù hợp với hoàn cảnh xã hội phát triển đã đưa đẩy nhiều người-đặc biệt những người đàn bà nông dân, những người đàn ông ít học, đói chữ, đói nghề, đói hạnh phúc đi đến những lỗi lầm, tuyệt vọng.

 

Trong truyện “ Ngửa mặt trông mưa”, bằng ngòi bút giàu chất hiện thực, với ngôn ngữ đặc sệt chất Quảng, với những hình ảnh phúng dụ có chất bi, hài, Phan Văn Minh đã phản ảnh một hiện thực trần trụi về cuộc sống túng quẩn của một gia đình bần nông , dẫn đến hệ lụy về bị tước đoạt hạnh phúc. Hai nhân vật chính trong câu chuyên không có tên cụ thể. Tác giả chỉ dùng từ “ chị’ và “ hắn” như muốn nhấn mạnh thêm tính chât “ đói tên”, “ mất tên” của nhân vật cũng vì nỗi khốn khó của gia đình họ. Câu chuyện không có “ đề tài” rõ ràng, rành mạch, chỉ là những cãi vã, lo toan, sầu muộn, mơ màng những chuyện không đâu nhưng gắn chặt với bát cơm  manh áo. Vì bần cùng, vì “ đói chữ” mà nhân vật câu chuyện cứ ngỡ như có một cơn mưa sẽ đổi đời, gia đình sẽ khấm khá. Quả là nực cười. Chúng ta hãy thử đọc một đoạn sau để thấy những dằn vặt, những lo toan của đời sống

 “-Cơm canh gì thế này mà bắt người ta đổ vào họng ? Sao không đem dao lỡ mà cứa cổ tôi luôn thể ?

Hắn ngửa cái cổ ra mà nhìn vợ. Còn cặp môi của vợ hắn thì rung giần giật:

-Nóng thì để cho nguội rồi hãy ăn ! Ai bảo…

………………………………

-Muốn ăn sang hả ? Đưa tiền đây ! –Vợ hắn bắt đầu to tiếng.

Hắn thổi phù phù, húp đánh xoạch một cái rồi trừng trừng nhìn vào mặt vợ :

-         Tiền ! Tiền ! Tiền ! Chứ lương của bà ở đâu ?”

                                         (  Ngửa mặt trông mưa)

Đoạn cuối kịch truyện là cảnh thương tâm, day dứt, để lại không ít băn khoăn cho bạn đọc về một tương lai có khả dĩ chăng ?

“ – Tháng chín rồi, nín chi nín lắm vậy, hả trời ?

Quả là trời nín. Mặt trời đã xế còn nhìn xỏ vào mặt người như trêu chọc. Hắn tức mình, lại khom người xuống nữa, nạo vét thật sâu hơn nữa. những dòng nước mạch nhỏ xíu từ trong lòng đất lại ứa ra, trong vắt”

                                 ( Ngửa mặt trông mưa)

 

 Truyện ngắn “ Hội làng” cũng là câu chuyện bi đan xen với hài về những khổ đau, những bất trắc của một làng nhỏ nông thôn ở vùng QuảngNam, nhưng dường như có tính

“ đặt trưng” cho nhiều vùng quê Việt. Dùng ngòi bút hiện thực huyền ảo “ kiểu Mỹ La tinh”, những câu chuyện thực đó mà như ma mị, hoang đường, những niềm tin về di chỉ văn hóa làng quê hòa trộn nhiều yếu tố mê tín dị đoan, “ phịa” với nhiều yếu tố suy diễn đã tạo ra tính hấp dẫn xuyên suốt tác phẩm. Mở đầu câu chuyện là “ Trong cái năm sao Chổi xuất hiện, làng tôi xảy ra toàn chuyện lạ. Đầu tiên là việc bụi tre ngõ nhà ông Hai Kiền sau đêm mồng bốn Tết mưa phùn đột nhiên mọc lên cái gò mối cao bằng đống rơm có hình tượng Phật ngồi trong thế kiết già…Người làng đến xin mỗi người một gánh đất về đắp cối xay. Ba ngày sau tất cả cối xay trong làng đều bị mối ăn tiệt”. Với một tình huống như thế, tác giả đã dẫn dắt câu chuyện về thì tương lai biết bao tai họa. “  Con trâu điên  nhà bà Đạm húc thằng cu Kều gãy xương sườn”. “  Đêm đến, người ta nghe tiếng sâu gặm lá như có hàng nghìn con bò đang gặm cỏ. Cứt sâu rơi xuống lá khô rào rào như mưa giông”. “  Chưa đầy một tiếng đồng hồ, đạo quân sâu đã đuổi sạch người làng ra khỏi nhà”. Đến cuối tuyện thì “ Dòng họ Nguyễn Huy bị bệnh giang mai suốt mười ba đời”.Đan xen trong các trang viết hiện ra  nhiều tình tiết mê tín, những tập tục lạc hậu, nặng nề, đẻ ra nhân vật Hai Hoách tham lam, tham tiền, không trọng danh dự, làm mọi việc bất chính để có tiền của ăn chơi. Hình ảnh đào mồ mã người chết để kiếm vàng, bị dân làng chưởi là “ Quân vô hậu !” “ Thằng đểu” của  thằng Hai Hoách, lôi kéo nhiều người tham gia dẫn đến bao hệ lụy : huyệt mộ  toang hoác, làng vẫn nghèo và buồn…mở ra những ánh nhìn ái ngại về buổi giao thời giao lưu các nền văn hóa với đời sống nhiều mưu cầu cá nhân, tác động tiêu cực không ít đến một quần thể xã hội.

 

Truyện “ Đêm trảng cát” là khúc bi ca có hậu về người phụ nữ tần tảo, khổ cực,với những giấc mơ hạnh phúc gia đình đơn sơ  nhưng không dễ dàng trở thành hiện thực. Nhân vật chị Hoài- một cái tên cũng rất thô mộc, chẳng gợi một chút nhan sắc hoặc kiêu hãnh, không chồng vì bị trắc trở cuộc đời, nhưng có hai con là Quăn và Ro- lại là hai tên con cũng rất thô mộc, với hai mảnh đời mong manh, ngắn ngủi, đau ốm, què quặt và không có chữ. Chất trữ tình của câu chuyện này là ở chỗ, người phụ nữ chị Hoài có bản năng tình yêu tinh khiết, trong sáng và chân thực. Dường như khi đọc truyện, chúng ta không thấy tính vụ lợi của tình yêu ở thời hiện đại ùa vào tâm tư, đời sống của các nhân vật trong câu  truyện. Đan xen, lan man những hình ảnh quá khứ và hiện tại, những lo toan về cơm áo gạo tiền của một cảnh đời độc thân góa bụa là những ước mơ hạnh phúc chân thực, tội nghiệp. Hình ảnh anh bán nong ho khục khặc, nhịn chị Hoài, chị cười khúc khích; hình ảnh mong ước ái ân, bắp thịt người đàn ông cuộn vồng nơi ngực, cặp đùi chắc nịch căng bóng; hình ảnh thằng Quăn lùa cặp bò cái đi ăn đồng xa; hình ảnh thằng Ro trước sau gì cũng chầu ông chầu bà tạo ra những nghịch cảnh chua xót trần ai. Nhưng hình ảnh cuối cùng câu truyện khi chị Hoài ngã người vào ngực người đàn ông một phần bản năng, một phần tình yêu, một phần giải tỏa những ẩn ức khát vọng hạnh phúc như một tiếng chuông cảnh tỉnh trước hiện thực còn nhiều nghiệt ngã, cô đơn

 

“ Bản hợp xướng mùa đông” –một truyện trong tập truyện ngắn của Phan Văn Minh  xứng danh “ lĩnh xứng”, “ phụ trách phần bè cao” của tập. Tình huống , kết cấu truyện thật giản dị.  truyện kể về ông Cẩm, bốn mươi năm trước đây ông làm đội trưởng đội văn công Trung đoàn. Đội văn công của ông  đã biễu diễn “một bản hợp xướng hết sức bi tráng đến nỗi, ngay sau đó, tất cả chiến sĩ đã rùng rùng đứng lên lao vào trận đánh giáp lá cà không một chút do dự. Trong trận đó, âm vang của bài hát đã tràn lên trước cả súng đạn và thân người. Nhiều tù binh Pháp sau này đã ghi trong hồi ký rằng chính nó-một bài hát quỷ quái gì đó dường như đã biến mỗi người lính Việt Minh thành một cục lửa”. Bây giờ làng ông mời những cựu chiến binh hát lại bản hợp xứng năm xưa. Ông Cẩm đã hát say mê, quên hoặc nói đúng ra là ông không hề hay biết trời mưa to gió lớn , đỗ ngã cả sân khấu, mọi người chạy tán loạn, chỉ ông vẫn hát say mê, và ngay lúc ấy vợ ông, bệnh nặng, ở nhà một mình đã qua đời. Một câu chuyện thật giản dị, thật dễ có, thật hiện thực. Tôi đã đọc và rơi nước mắt. Bởi trong câu chuyện ấy, Phan Văm Minh đã lồng hình ảnh đôi vợ chồng già cô đơn, đau ốm, nhưng không thiếu ngọn lửa đam mê cuộc sống bởi có quá khứ tươi đẹp, bởi quá khứ đã đi vào hư ảo nhưng có nhiều lưu luyến, bởi họ nhận biết ra tình yêu của đời sống thật giản dị. Nhưng tất thảy cũng “ như là giấc mơ”. Tình yêu và nỗi cô đơn dường như là hai thái cực của trời đất tâm linh. Và cuộc đời trầm luân, nghiệt ngã, khó toàn vẹn cho những hoài bão. Có lẽ đây cũng là thông điệp xuyên suốt tập truyện.

 

 Mặn nhạt khác nhau, những tình huống truyện cũng khác nhau, bằng những quan sát tinh tế, những cái nhìn sắc sảo mỏng phần khách quan, dầy phần chủ quan, cùng với các truyện “ Biệt thự ma ám”, “ Bài thơ vĩnh hằng”, “ Ngã ba đầu sông”…Phan Văn Minh đã vẽ nên nhiều bức tranh nghiệt ngã của đời sống. Bút pháp chân thực, hóm hỉnh, ít chú ý cấu trúc truyện, ít thắt chặt nội dung đề tài, như ý tác giả muốn câu chuyện có tính mở, để bạn đọc còn  “đồng sáng tạo”, Phan Văn Minh đã sáng tạo ra “ Bản hợp xướng mùa đông” nhiều phần ma mị, rất đáng đọc. Là một khán thính giả thân thiết , tôi cầu chúc anh cả hai vai diễn nhạc sĩ và văn sĩ có những thành công mới trong thời đại mới.

                 

                            Huỳnh Minh Tâm

 GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ, Đại Lộc, QuảngNam

 ĐT 0122 306 8721