Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

GIẢI MÃ "HỘP ĐEN BÁO BÃO"

                                                                         TS.PHẠM NGỌC HIỀN
 
 
 

Nhà thơ PHAN HOÀNG

 

Dòng chảy của tiềm thức trong thơ ca(*)

 

 

    “Nếu chịu khó giải mã những ký hiệu của nó, bạn đọc có thể sẽ tìm thấy hình bóng của mình trong đó. Hộp đen báo bão không chỉ có khả năng đánh thức được những khát khao tiềm ẩn của mỗi người mà còn là một tác phẩm có giá trị đặc sắc về mặt nghệ thuật ngôn từ”.

 

 

   Con người luôn sống trong sự ám ảnh, dù ít hay nhiều và họ có ý thức được hay không. Từ trong tiềm thức, bật ra những khát khao và trăn trở mà bản thân mỗi người hoặc cả cộng đồng đã từng trải nghiệm. Nó là động lực vô hình chi phối đến nhiều hành động và lời nói của con người. Áp lực đó đối với văn nghệ sĩ rất lớn, nếu không nói ra thì không thể chịu được. Và tác phẩm nghệ thuật trở thành nơi tinh đọng của những dòng chảy tuôn ra từ tiềm thức. Tập thơ Hộp đen báo bão của Phan Hoàng là một trong những ví dụ sinh động nhất.

   Nỗi ám ảnh thứ nhất có thể tạm đặt tên là "Thương nhớ đồng quê". Phan Hoàng sinh ra ở một vùng quê nghèo, anh cho đó là điều may vì "kịp thở hơi thở ruộng đồng(....), kịp hát cùng tiếng dế tiếng ve". Sau này, khi "ngọn  gió chân quê lạc vào thành phố" và chính thức nhận Sài Gòn làm quê hương thứ hai, tiếng gọi của đồng quê vẫn canh cánh trong lòng thi sĩ:

   "thơ đánh thức tôi

   tiếng động chân cò lặn lội đêm mưa"

   Phan Hoàng vẫn luôn "hướng về nguồn cội", "hướng về Miền Trung tuổi nhỏ". Dẫu biết rằng đó là xứ sở “mưa dầu nắng dãi - xẻ núi vượt đèo" nhưng nơi ấy đẹp như một giấc mơ "xanh màu luỹ tre cổ tích". Cũng như bao làng quê khác ở Việt Nam, nơi đây vẫn còn lưu giữ bóng hình của ngàn năm dân tộc. Suy cho cùng, mỗi người dân thành thị Việt Nam hoặc Việt kiều xa xứ cũng đều lưu giữ trong tiềm thức của mình một nét "chân quê".

   Gắn bó với miền quê cổ tích đó là hình ảnh người mẹ tảo tần nuôi con khôn lớn từ những năm tháng chiến tranh. Tác giả ví công lao to lớn và vẻ đẹp thánh thiện của người mẹ như pho sử thi của mỗi dân tộc:

   "thơ tôi

    dòng sông độc hành từ sử thi đời mẹ"

    Nhà thơ thấy mình may mắn vì "kịp mơ giấc mơ thơm bầu vú mẹ". Rồi từ đó, dòng sữa ngọt ngào chảy suốt cuộc đời tác giả. Nỗi nhớ mẹ được "ảnh xạ" trong thơ: "thi ca đến tiếng co giật mẹ tôi đau đẻ". Dù bất cứ nơi đâu, ngay cả ở trên tàu, tác giả cũng nghe thấy hình ảnh mẹ mình: "gió vun vút như lời ru của mẹ - mưa xạc xào giọng tằng hắng của cha"...

   Cũng như bao người dân Việt Nam yêu nước khác, tác giả của Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thường hay suy tư nhiều về lịch sử đất nước. Anh gọi thế  kỷ XX ở Việt Nam là "thế kỷ mang hình phong ba", "thế kỷ như dòng sông và nước mắt - lặng lẽ trôi trong máu lửa hoa hồng". Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước đã trôi qua hơn 25 năm rồi nhưng ngày nào nó cũng được nhắc đến trong cuộc đời thường lẫn trên báo, đài. Đó là sự ám ảnh lớn của cả dân tộc. Những hình ảnh dữ dội của cuộc chiến đã in dấu ấn sâu sắc trong tâm thức của cậu bé Phan Hoàng. Nhà anh nằm dưới tầm đại bác, cách đồn lính Đại Hàn chừng một cây số. Bom đạn đã xuyên những vết hằn trong tuổi thơ anh.

   "may mắn tôi thế kỷ nhầm sinh

   kịp nấc giấc mơ đôi bờ chia cắt

   giấc mơ bom đạn hai mươi năm

   bác Bắc cha Nam"

   Mặc dù tự cho mình sinh nhầm thế kỷ nhưng anh vẫn coi đó là sự may mắn, bởi vì "lịch sử dạy tôi biết cái giá được làm người"

   Từ bao đời nay và ở đâu cũng vậy, xã hội vẫn vốn chứa đựng nhiều điều nghịch lý. Chủ nghĩa phi lý đã từng có tác động rất lớn đến nhiều trường phái văn học ở châu Âu. Là một thi sĩ nhạy cảm, Phan Hoàng không thể không suy tư nhiều về bản chất hai mặt của con người: "nửa như kẻ tu hành - nửa như tên tử tội", nhập nhằng "giữa thiên thần và ác quỷ". Để thích nghi với hoàn cảnh ấy, mỗi con người cũng phải trang bị cho mình "mặt nạ": "nỗi lòng tang thương và nụ cười lễ hội". Ngoài ra, con người còn phải đối diện với nhiều nỗi "bất an" giữa "tương lai và quá khứ - hoà bình và chiến tranh - văn minh và huỷ diệt". Sự sống con người "chênh vênh" như đứng giữa "núi cao và vực thẳm - ánh sáng và bóng tối(....) tôi ngỡ mình như có như không". Tác giả ví thơ của mình như "hộp đen con tàu bất an - lưu giữ những cơn mộng mị hoang tàn trắc  ẩn". Biết trước cảnh  "biển đời nào tránh được phong ba", nhiều nghệ sĩ muốn "mơ về nơi xa lắm". Phan Hoàng muốn trở thành chú ngựa hoang để "mơ giấc mơ tự do nguyên thuỷ thảo nguyên xanh". Vì thế, thơ anh lấp lánh những sắc màu của miền trời siêu thực. Có thể thấy rõ điều đó qua cách sử dụng từ ngữ mới lạ và trật tự ngữ pháp không theo lô gích thông thường, không dùng dấu chấm câu... Trên phương diện này, anh đã có những sáng tạo rất đặc sắc.

   Con người sống không thể thiếu tình yêu, quy luật muôn đời là vậy: "lịch sử nhân loại đi về đâu nếu thiếu vắng ái ân". Văn học nghệ thuật được sinh ra là để nói hộ cho con người những khát khao tình cảm. Như đứng trước một bức tượng khoả thân, ai lại không có cảm tưởng:

   "sau tuyệt mỹ những đường cong giới tính

   u uẩn cơn giông khao khát vô hình"

   Suốt cuộc đời, Phan Hoàng luôn mang theo trong mình những rung động đầu đời: "trai trần gái truồng - dại sông đáo để - mùa - cu gù chim". Trái tim của các nghệ sĩ vốn rất nhạy cảm trước sự trôi đi mau chóng của thời gian. Điều đó có thể lý giải vì sao một chàng trai ba mươi tuổi lại khao khát "bao giờ đến tuổi hồi xuân". Phần lớn nghệ sĩ đều coi tình yêu là nguồn cảm hứng chính trong sáng tác, đúng như câu nói "trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ". Bởi vậy:

   "em còn trăng bao mình thiếu phụ

   ta còn điên đảo mộng thi ca"

   Bốn đề tài nói trên thực ra là các nhánh rẽ của dòng chảy tiềm thức. Thơ ca giống như một hộp đen con tàu "lưu giữ những giấc mơ chênh vênh tiềm thức". Nếu chịu khó giải mã những ký hiệu của nó, bạn đọc có thể sẽ tìm thấy hình bóng của mình trong đó. Hộp đen báo bão không chỉ có khả năng đánh thức được những khát khao tiềm ẩn của mỗi người mà còn là một tác phẩm có giá trị đặc sắc về mặt nghệ thuật ngôn từ.

2002

----------

(*)Tập thơ Hộp đen báo bão của Phan Hoàng, NXB Trẻ - 2002

 

Sự nổi sóng của ngôn từ trong

Hộp đen báo bão

 

   “Phan Hoàng coi thơ mình như là "hộp đen ký ức đa tình - hộp đen con tàu bất an", "thơ gào thét", "cơn bão tử hình"… Phải đọc kỹ tập thơ, ta mới có thể hiểu được "hộp đen" đã tiên tri những gì về số phận của con tàu thi ca trước cơn giông bão biển đời".

 

   Nhà ngôn ngữ  học Zhirmuski cho rằng "Lịch sử của thơ ca là lịch sử của nghệ thuật ngôn từ". Nói đến thơ ca, trước hết phải nói đến vẻ đẹp ngôn từ. Nhà thơ như người thổi linh hồn và ngôn ngữ, làm cho những từ ngữ yên lặng bỗng trở nên xao động, nổi sóng và lấp lánh vẻ đẹp muôn hồng ngàn tía dưới ánh mặt trời. Cũng như nhiều thi sĩ Việt Nam hiện nay, Phan Hoàng luôn trăn trở  tìm tòi, đổi mới hình thức diễn đạt của văn chương. Tập thơ Hộp đen báo bão của anh đã thực sự đem đến cho bạn đọc nhiều điều bất ngờ thú vị.

   Một trong những nét độc đáo của tập thơ mà có thể làm cho nhiều nhà ngữ pháp văn bản phải nhức đầu là tác giả đã không dùng đến một dấu câu nào. Toàn bộ các câu thơ không viết hoa đầu dòng và ngay cả các nhan đề bài thơ cũng viết thường. Tập thơ không có dấu hiệu khởi đầu và kết thúc, thành thử, nó cứ lửng lơ, chưa định hình và dư âm cứ mặc sức lan tỏa. Do câu thơ bị kéo dài vô tận nên có xu hướng xích lại gần văn xuôi. Và nếu tán thành quan điểm của L. Aragông: "Không có sự khác nhau cơ bản giữa bài thơ và tiểu thuyết" thì ta có thể coi Hộp đen báo bão như là "Cuốn tiểu thuyết chưa hoàn thành" viết về một thân phận tài hoa.

   Ngôn ngữ thơ Phan Hoàng rất sinh động. Trước hết do sự luyến láy âm thanh và hình thức điệp có tác dụng tô đậm một hình ảnh nào đó:

    "bến tình yêu yểu điệu chiều thu"

    "nắng lưu ly môi mắt giảng đường"

chàng sinh viên nghèo không thể hòa nhập vào thế giới phồn hoa nên đành đèo người yêu trên "chiếc xe đạp cà tàng tình tang ngangdọc" để "đưa nhau qua những vòm trời siêu thực". Biết rằng "Cuộc đời như một giấc mơ" mà nhà thơ là kẻ lãng du trong cõi hư hư thực thực nên chẳng trách gì "em lại phê bình anh lẩn thẩn lần thần". Cũng có lúc, đang đương đầu với cõi thực, nhà thơ bỗng "giật mình" vì thấy "thiêu thiếu tình yêu văng vắng ước mơ ". Để rồi mỗi lần trở lại giây phút thần tiên "môianh môi em rung rinh mở hội". Cái hay ở thơ anh là các yếu tố nhạc và hoạ kết hợp với nhau rất tài tình.

   Nhưng cái đọng lại trong tim bạn đọc không chỉ các từ ngữ được đẽo gọt tinh vi mà còn bởi sức nóng "hừng hực" của ngọn lửa nhân văn. Đằng sau hình thức đảo ngữ tưởng như chỉ chơi chữ nhưng thực ra là để nói lên một nghịch lý ở đời:

   "dòng sông không giông bão bão giông"

   "dòng sông không nhân danh "bác ái từ bi từ bi bác ái"

   Phan Hoàng còn bộc lộ "nỗi buồn văn chương" trước nhiều tác phẩm cũng trang sức hoa hoè phô trương hình thức mà không nói lên được nội dung tư tưởng gì sâu sắc, mới mẻ. Chữ nghĩa cứ  "tưng tửng từng tưng", "nháo nhác nháo nhào", "rủng rẻng rủng reng toen toét hơi đồng"… Trong khi đó, "nhà văn chân chính như tá điền cật lực trên cánh đồng giông bão" mà không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được "mùa vàng".

  Thơ Phan Hoàng lãng đãng màu siêu thực. Cách sắp xếp từ ngữ nhiều khi không theo lô gích thông thường. Đó là biểu hiện của lối viết tốc ký để đuổi kịp những thác ngôn từ tuôn ra từ tiềm thức: "may mắn tôi thế kỷ nhầm sinh", "chuông đổ ngực rằm"… Đồng thời, nhà thơ cũng "Sáp nhập lại với nhau những thực tại vẫn xa cách nhau" (P.réverdy) nên tạo ra sự bất ngờ thú vị.

   "chim rừng lùa mây xây tổ"

   "bỗng nhiên anh điếng người thèm một nụ hôn"

   "một suối tóc vô tình đủ lũ lụt thi ca"

   Nói đến công lao người mẹ, chưa ai nói như Phan Hoàng: "tổ quốc huyền thoại những bà mẹ chịu đựng tảo tần mang vóc dáng sử thi". Khái niệm sử thi (anh hùng ca) dùng để chỉ những trường ca đồ sộ ngợi ca công lao và vẻ đẹp của những người có công với nước. Dùng "sử thi" để nói đến tầm vóc người mẹ Việt Nam, một sự liên tưởng tuyệt vời!.

   Đặc trưng của ngôn ngữ thi ca là lối nói ẩn dụ giàu hình ảnh sinh động. Phan Hoàng đã thể hiện cảm nhận của mình trước một bức "tượng tình" khoả thân bằng một lối diễn đạt bóng bẩy rất độc đáo:

   "sau tĩnh lặng những đường cong giới tính

   giông bão thầm trôi về phía tài hoa"

thì ra là tác giả muốn nói đến qui luật "tài mệnh tương đố" theo quan niệm Nho gia.

   Thực ra, thơ Phan Hoàng hiện đại mà vẫn gắn bó với truyền thống. Văn Nguyễn Tuân, thơ Bùi Giáng tuy hướng tới hình thức mới lạ nhưng kỳ thực là góp phần làm cho tiếng Việt thêm giàu có. Muốn vậy, cần phải bổ sung cho từ ngữ những nét nghĩa mới, buộc người đọc phải chịu khó suy nghĩ thì khi phát hiện ra lớp nghĩa chìm của nó mới cảm thấy thú vị. Chẳng hạn: "thế kỷ mang hình phong ba". Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ dàng "giải mã" được thơ anh, như câu: "thế kỷ tri âm những cơn mơ vĩ nhân phát tích văn minh"…

  Tập thơ chứa đựng nhiều bí ẩn như "hộp đen" của máy bay. Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa phái sinh của "hộp đen" là chỉ những gì có cấu trúc và hoạt động bên trong rất phức tạp. Nó cũng giống như thế giới tinh thần "con người vốn chênh vênh-giữa thiên thần và ác quỷ". Phan Hoàng coi thơ mình như là "hộp đen ký ức đa tình - hộp đen con tàu bất an", "thơ gào thét", "cơn bão tử hình"… Phải đọc kỹ tập thơ, ta mới có thể hiểu được "hộp đen" đã tiên tri những gì về số phận của con tàu thi ca trước cơn giông bão "biển đời".

2011

PHẠM NGỌC HIỀN

NGUỒN: nhavantphcm.com.vn