Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

HỒN CỐT ĐỊA DANH VIỆT

                                                                          PHAN THANH MINH
 
 

Địa danh hay là tên địa lý được con người đặt ra để chỉ tên sông, tên núi, tên biển, tên đảo…, nói chung là tên định danh cụ thể địa chỉ ở địa hình nào đó và cả đơn vị hành chính nữa. Phạm vi nhỏ hơn là tên con đường, cây cầu, bến nước, ngôi chợ hay một xóm; rộng ra đến tên quốc gia, châu lục, đại dương… Nước Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, vì thế địa danh khắp nơi trong nước thể hiện đa dạng về ngôn ngữ của chừng ấy dân tộc.

 

 

Theo nhà ngữ học Hoàng Thị Châu (trong “Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phương thức nhập nội địa danh”), địa danh thường đi kèm với danh pháp, tức là danh từ chung chỉ đối tượng địa hình. Những địa danh từ thời cổ đại thường là chỉ danh từ chung. Ví dụ ở châu Âu, sông Đanuýp chảy qua Đức, Áo gọi là Đônau (Donau), qua Nga là Đunai có nghĩa là “nước (lã)”. Cũng giống như vậy, ở châu Á, ngay tại nước ta, “Kông” trong tên sông Mê Kông chính là từ “sông” (sông mẹ); tên sông Trường Giang, theo từ điển Từ Hải thì “Giang” được ghi cách đọc bằng chữ “công”. Như vậy cả hai con sông lớn nhất ôm lấy cả vùng Đông Nam Á đều có tên gọi ban đầu là sông nước, không khác gì cách đặt tên sông Đanuýp ở Trung Âu.

 

Sông VU GIA

 

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, tên gọi sông Vu Gia thuộc tỉnh Quảng Nam có gốc gác từ tiếng Chăm. Tuy nhiên chưa có tài liệu nào giải thích rõ nghĩa của từ “Vu Gia”. Theo ý kiến riêng, “Vu Gia” cũng là tên gọi ban đầu của “sông nước”, giống như “kông”, “sông”, “giang”… ở vùng Đông Nam Á hay “Đanuýp” ở châu Âu. Theo từ điển tiếng Chăm, “yă” có nghĩa là “nước”. Ở Quảng Nam ta thường bắt gặp trò chơi phổ biến của trẻ con có tên gọi “ma da lên bờ” (ở Thừa Thiên Huế gọi “ma da” là “ma rà”). Vì thế ta có thể giải thích “ma da” hay “ma rà” có nghĩa là “ma nước”, trong đó các từ tố theo cách viết và cách đọc phổ biến ngày nay là “gia”, “da”, “rà” đều là tiếng Chăm có nghĩa là “nước”. 

Do có sự quan hệ về địa lý, lịch sử, văn hóa… mà từ xa xưa người Việt đã dùng chữ Hán làm văn tự ghi chép chính. Vì vậy mà nhiều địa danh trên đất nước được đặt tên theo chữ Hán, nhất là tên các đơn vị hành chính (tên xã, huyện, phủ, tỉnh, trấn…). Song tiếng Việt thuần túy không thể hoàn toàn ghi lại bằng chữ Hán, đây cũng là đặc điểm mà các trí thức nước ta thấy cần sáng tạo ra một loại chữ ghi lại tất thảy các hiện tượng và sự vật trong cuộc sống theo cách nói, cách nghĩ của người Việt nên chữ Nôm ra đời. Chính vì thế mà nhiều địa danh là cách nói thuần túy của người Việt, kể cả tên các đơn vị hành chính. Ví như “Sông Hồng”, văn tự Hán gọi là “Hồng Hà”, đọc theo âm tiếng Trung là “Hongghe”, nhưng trong dân gian thường gọi là “Sông Cái” (tức Sông Mẹ), người Pháp phiên âm thành “Song Koi” (Sông Cái), còn người Thái gọi là “Mẹ Nặm” (cũng là Sông Mẹ) hay “Nặm Đeng” (tức là Sông Đỏ). Tương tự, những tên chỉ địa hình (Sông Đào, Sông Lam, Sông Gianh, sông Thu Bồn, Sông Hàn, Đèo Le, Eo Gió, Gò Nổi, Tí, Sé, Dùi Chiêng, Cù Lao Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré…), tên làng (Đập Đá, Sịa, Nông, Trùi, Bà Rén, Bà Bàu…), các nơi thờ tự (chùa Bà Đanh, điện Hòn Chén…), ngôi chợ (Chợ Mai, Chợ Tổng, Chợ Ba Xã, Chợ Cồn, Chợ Lớn…), nhiều tên vùng, đơn vị hành chính (Nhà Bè, Đồng Nai, Hóc Môn, Củ Chi…), tên vùng đất cũ như Đàng Trong, Đàng Ngoài… hoàn toàn thuần túy là những chữ của người Việt, không có chữ nào có nguồn gốc Hán. Hoặc như Đà Nẵng, Đà Rằng, Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết… là những chữ có nguồn gốc từ tiếng Chăm. 

Căn cứ vào các tài liệu về lịch sử, hàng ngàn năm nước ta phải trải qua 4 lần Bắc thuộc. Mỗi lần lệ thuộc như thế, quốc hiệu của nước ta qua các triều đại cũng bị vùi dập và thay vào đó là tên quận, châu theo cách gọi của người Trung Quốc áp đặt. Dẫu rằng hàng ngàn năm bị phương Bắc đô hộ, nhiều lần Trung Quốc thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc, văn hóa, xóa bỏ nền văn hiến ở nước Nam…, song nhiều phong tục cao quý của dân ta, và quan trọng hơn là phần hồn của “lời ăn tiếng nói” của người Việt vẫn được tiền nhân cố công bảo tồn. Nên sau những lần khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược, xác lập chủ quyền Tổ quốc và khẳng định niềm tự tôn dân tộc, các hoàng đế nước Nam đều đặt quốc hiệu hợp với lòng dân, như Vạn Xuân (năm 544), Đại Cồ Việt (năm 968), Đại Việt (có từ năm 1009 nhà Lý, đến năm 1428 Lê Lợi lấy lại quốc hiệu).
 
 

Ở thượng nguồn sông Vu Gia (dân gian ở Đại Lộc gọi tên sông Vu Gia là Sông Cái = Sông Mẹ) có nhánh sông nhỏ gọi là Sông Kôn (Côn), thực ra Kôn không phải là tiếng thuộc ngữ hệ Môn - Khơme mà là do từ “Con” (Sông Nhỏ, Sông Con) được người Pháp phiên âm mà thành (vì nếu viết là “Con” thì tiếng Pháp phải đọc là “Xon”). Tương tự, các chữ Tourance, Faifo được phiên âm các chữ Đà Nẵng, Hải Phổ (Phải Phố?) mà có.

HOÀNG SA
 
Cũng liên quan dến lịch sử, từ lâu (ít nhất là trước thế kỷ XVII) những ngư dân người Việt đã đến các quần đảo cách bờ biển nước ta chừng 200 hải lý và họ đặt tên gọi các hòn đảo ấy thuần túy là tiếng Việt: “Bãi Cát Vàng” hay “Cồn Vàng”. Chính cái tên “Bãi Cát Vàng” theo cách gọi dân gian mà từ đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng quân ở các đảo này. Các bản đồ địa lý thời ấy đã xác định “Bãi Cát Vàng” thuộc xứ Đàng Trong. Tên Hán tự “Hoàng Sa” (thời ấy chỉ chung cả Trường Sa) bắt nguồn từ chữ thuần túy là tiếng Việt - “Bãi Cát Vàng” hay “Cồn Vàng” - do những người dân đất Việt khai phá. Do vậy, để xác định chủ quyền các quần đảo nói trên, các chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn đã đặt tên theo tinh thần ngôn ngữ của con dân đất Việt (theo tài liệu của tiến sĩ Hãn Nguyên Nguyễn Nhã).

Lại nói đến thời nước Pháp “bảo hộ” nước ta, họ cũng đặt tên và ghi lại các địa danh trên bản đồ theo chữ của họ. Chẳng hạn ở Hải Phòng có các địa danh Le Grottes (Đảo Hang), La Semelle (hòn Đế Giày, Hòn Hài, Hòn Guốc), Baier des Cycas (Vịnh Chàng), Statuette (hòn Tượng Nhỏ, Hòn Bụt), Baie du à Chaux (vịnh Cái Giá)… - vẫn theo nhà nghiên cứu Hoàng Thị Châu, tài liệu đã dẫn. Các tên gọi theo tiếng Pháp hoàn toàn không phổ biến ngay khi người Pháp còn đô hộ, với người dân Việt những tên thuần Việt mãi mãi trường tồn, và các tên bằng chữ Pháp ấy đã được gỡ xuống trên bản đồ Việt Nam sau khi nước nhà độc lập.

Tuy nhiên, một số địa danh do người Pháp phiên âm từ tiếng Việt hoặc ngôn ngữ vùng Đông Nam Á thì đến nay vẫn tồn tại. Chẳng hạn như con sông được gọi theo kiểu cư dân Lào - Thái là “Mè Khoóng” (Mè = Mẹ; Khoóng là biến âm của Khlong = một tự có nghĩa là sông, tức là Sông Mẹ; người Việt gọi là Sông Lớn, Sông Mẹ, Sông Cái hay sông Cửu Long) được người Pháp phiên âm thành “Mékong” (Mê Kông), vì trong tiếng Pháp không có âm/ kh/ và nhiều trường hợp âm/ h/ không phải là thành phần tham gia vào việc phát ra âm thanh (nhiều người quen gọi là h câm). Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, chính chữ “Cửu Long” đọc theo âm Hán Việt bắt nguồn từ âm K'long (tức là sông) mà ra, chứ không phải hiểu theo nghiã “chín con rồng” (long) như trong bài hát “Ai xuôi vạn lý (Hòn vọng phu 2) của Lê Thương hay cách diễn giải của nhiều người (dẫn theo bài giảng “Nguồn gốc tiếng Việt” của GS-TS Phạm Đức Dương). Vì rằng, ở Trung Quốc cũng có con sông Cửu Long (Cửu Long Giang) mà không cùng dòng với con sông Mê Kông; sông Mê Kông được người Trung Quốc gọi là Lan Thương Giang (nghĩa của nó là “Con sông cuộn sóng”, bính âm là L'ancăng, Lan - tr'ang chiang). Chẳng hạn làng “Lăng Cô” ở phía bắc đèo Hải Vân không phải xuất xứ từ ngôi mộ của cô gái nào đó (vì người ở Thừa Thiên Huế nói riêng và Bắc miền Trung nói chung, từ chỉ cô gái được gọi bằng o) hoặc là tên của Làng Cò do nói trại mà thành. “Lăng Cô” do chữ “An Cư” mà có. Vì rằng, trong tiếng Pháp không có âm/ ư/ và khi họ viết thường thêm mạo từ le, la trước danh từ, nên: An Cư > Ancõ > L'Ancõ, sau người Việt căn cứ vào văn bản mà đọc thành “Lăng Cô” (?).

Nói đến lịch sử để chúng ta thấy rõ, ngôn ngữ của dân tộc nào là mang phần hồn của dân tộc ấy, địa danh hiện diện trên khắp đất Việt từ quốc hiệu đến tên làng, xóm, sông, núi, biển, đảo… đều do người Việt đặt tên và mang hồn cốt của dân tộc Việt.

PHAN THANH MINH