Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

LAI RAI LUẬN VỀ CHỮ "BỒI"- Thạc sĩ Giấy Rách

Trước hết xin có đôi lời tự giới thiệu làm quen với quý độc giả gần xa. Xin chào! Tôi đây là GIẤY RÁCH, học trò của Tiến sĩ Giấy Vụn; không phải học trò chính quy mà học trò thuộc hệ tại chức chuyên tu. Dù đã mấy chục năm mài dùi kinh sử, đọc hết vạn pho sách thánh hiền nhưng trầm trầy trầm trật, vượt bao nhiêu trúc trắc trục trặc mới bò lên được Thạc sĩ. Thú thật, tôi hơi buồn về việc này và chặt lưỡi ước mơ xanh rờn rằng thì là: Biết đến bao giờ mới mò lên được Tiến sĩ như Người thầy vĩ đại Giấy Vụn?!?! Không lẽ phải chờ đến... tận thế?
Tôi đem tâm sự nỗi buồn tỉnh lẻ mùa mưa lụt này thầm thì thủ thỉ với thầy mình. Thầy an ủi: hình như kiếp trước con là hậu duệ ngoài luồng của Ngưu ma vương, có họ hàng xa với Trâu tức... Bò, nên trí thông minh của con hơi bị... ngu lâu. Hơn nữa, đang sống trong thời đại văn minh phong bì mà phong bì của con lại mỏng dính... Thôi đừng buồn lo suy nghĩ làm gì, rủi như bị nhồi máu cơ tim đột quỵ hoặc đái tháo đường... thì nguy to cho nền văn học kiêm học thuật nước nhà, vì dù sao con cũng là thiên tài thế giới đứng thứ hai; đương nhiên trò phải thua  thầy một bậc. Hãy ráng đợi ít bữa nữa, nền giáo dục toàn diện tiên tiến nước nhà phổ cập tiến sĩ cho toàn quân toàn dân, thì lúc đó con cũng là tiến sĩ như ai. Lo gì! Thầy trò ta vốn thuộc môn phái Tiếu Lâm Luận, con hãy chuyên tâm sớm khuya lo rèn bút kiếm cho sắc, đừng nên tơ tưởng chi chuyện học hàm học vị hư danh. Tên của thầy nghe đã hẩm hiu, tên con càng tơi tả xơ xác mướp bội phần! Vì vậy, trên mỗi bài viết, con nên gắn thêm cái xì-lo-gần : "GIẤY RÁCH PHẢI GIỮ LẤY LỀ!", để độc giả khỏi hiểu lầm vì cái tên. Hơn nữa, đây cũng là cách tự nhắc nhở mình khi cầm bút. Lời thầy khuyên thật chí lý, tôi làm theo... và có bài Lai rai tản luận này, trình làng trên xóm dưới đọc chơi đỡ buồn.  - *Thạc sĩ GIẤY RÁCH
 
  TẢN LUẬN
 
                                      " GIẤY RÁCH PHẢI GIỮ LẤY LỀ! "
 
 1. 
Hồi xưa, lúc Giấy Rách tôi lên bảy, tám tuổi, tức thời Đệ nhất Cọng hoà, quê tôi là một làng trung du heo hút miền Trung. Hồi tưởng lại, tôi thấy dân quê tôi thời đó chưa phải giàu có gì, nhưng đời sống nơi thôn dã thật êm ấm yên bình. Vui nhất là các dịp lễ Giáng Sinh, Phật Đản và Tết Nguyên Đán.
 Trước lễ Giáng Sinh, từng xóm đạo chưng hang đá, giăng lồng đèn ở các ngã ba ngã tư và treo ngôi Sao Lạ trên ngọn cây. Dù lúc đó ở quê chưa có điện nhưng lồng đèn được thắp sáng bằng nến và ngôi Sao Lạ được thắp bằng pin lát, nên trông cũng lung linh sắc màu huyền ảo lắm lắm!
 Bọn trẻ chúng tôi lại đựơc phát bánh kẹo- gọi là "quà của Chúa Hài đồng tặng". Lúc đó bọn trẻ nhà quê chúng tôi chưa biết Ông già Noel.
 Lễ Phật Đản, gia đình Phật tử thường tổ chức văn nghệ trước sân chùa, phát bánh ú và chuối chín cho trẻ em-gọi là lộc Phật, sau đó có đoàn rước đèn ra bến sông thả hoa đăng...
 Ngay từ 25 tháng Chạp âm lịch, nhà nhà đã rục rịch chuẩn bị đón Tết: dọn dẹp trang trí nhà cửa, cắt xén lại hàng rào chè tàu, sửa sang cây kiểng, làm các loại bánh trái... Từ ngày 27 trở đi, từ sáng sớm, quanh làng đã nghe rộn tiếng heo kêu vì bị thọc tiết- dân làng bắt đầu làm thịt heo để dọn cỗ cúng Tất niên. Ngay sáng mùng một Tết, người ta đã khai trương hội Bài Chòi ở chợ xã, với tiếng trống chầu nghe rộn ràng khắp xóm thôn. Bà nội tôi rất mê Bài Chòi nên tôi thường theo bà ra đó chơi...
 
Xin lỗi! Chắc quý bạn đọc nóng ruột cho rằng Giấy Rách tôi lạc đề! Mà không khéo lạc đề thật! Đang định dẫn nhập ít dòng, lại nhắc đến kỷ niệm thời thơ ấu nên... sa đà... Giấy Rách tôi xin quay về vấn đề chính ngay chút xíu nữa thôi... Hội Bài Chòi chỉ thu hút được người lớn tuổi như lớp bà nội tôi và bọn trẻ chúng tôi; còn lớp thanh niên như cha tôi và chú Bảy thì thường tụ tập "gầy sòng" chơi xì-lác, ác-tê hoặc xì tẩy với bộ bài Tây 52 con. Khi bộ bài Tây đã cũ, người lớn đem vứt lung tung, bọn trẻ chúng tôi nhặt lại và bắt đầu làm quen với cơ, rô, chuồn, bích và xì, già, đầm, bồi... Lá bài có in hình ông vua Tây có râu gọi là "Già". Lá bài có in hình hoàng hậu Tây gọi là "Đầm". Còn lá bài có in hình một anh chàng tay cầm gươm gọi là "Bồi". Tôi cứ thắc mắc miết tại sao lại gọi lá bài ấy là "Bồi"? Đem chuyện này hỏi chú Bảy- chú ruột tôi, người được đám thanh niên trong làng phong là "Cao thủ xì tẩy", bị chú la: "con nít hỉ mũi chưa sạch cứt mà bày đặt bài với bạc! Lo học hành đi, không thì cho ăn "cháo lươn" nát đít nghe con!". Cho ăn cháo lươn nghĩa là quất roi mây vào mông để lại những vết bầm rướm máu giống hình con lươn. Ở quê tôi thời ấy, nhà nào có trẻ em cũng thường có cái roi mây dài dắt bờ phênh, để làm... giáo cụ dạy dỗ bọn trẻ tới nơi tới chốn. Một hôm gặp người chú họ tên là Hai Trừng- chú là 1 trong 2 người trong làng đang theo học Díp-lom ở Faifo- tức Hội An bây giờ, (thời đó dân quê mà học lên được Dip-lom, tức lớp đệ tứ-trung học thì oai lắm!) tôi lại nêu thắc mắc về con "Bồi". Chú ấy trả lời: "Hồi nhỏ đến chừ, chú chỉ lo học hành, không rành lắm về việc bài bạc, nhưng chú đoán hình con bài đó là tên lính ngự lâm làm gạc-đờ-co, bảo vệ cho vua và hoàng hậu. Cháu còn nhỏ không nên tìm hiểu mấy chuyện ba láp!"
2.
Làng quê chỉ yên bình được khoảng 4,5 năm, chiến sự bắt đầu nổ ra và ngày càng ác liệt. Tôi không hiểu vì sao đang yên đang lành, người lớn lại chia phe rình rập bắn giết lẫn nhau?! Trong làng, dường như ngày nào cũng có người chết hoặc bị thương, dân lành nơm nớp lo sợ. Phần lớn dân chúng tản cư về quận lỵ bên kia sông, một số khác chạy ra thành phố. Gia đình tôi cũng gồng gánh dắt díu nhau ra thành phố tị nạn... Thằng bé nhà quê lần đầu ra phố, thấy cái gì cũng lạ! Lần đầu tiên được bà chị họ, đang làm y tá ở Bệnh viện Giải phẫu, dẫn vào tiệm ăn khá sang, nay tôi vẫn còn nhớ tên bảng hiệu là "Cấp Tiến", ăn phở và uống nước cam chai BGI ướp lạnh, tôi sướng rêm người! Ngon ơi là ngon! Ngon đến bây giờ mà tôi vẫn còn nhớ như in cái hương vị tuyệt vời của phở và nước cam đó! Cũng tại quán ăn này, tôi học được hai từ mới: BỒI BẾP và BỒI BÀN. Ngày nay, người ta không dùng các từ ấy nữa: bồi bếp đổi thành phụ bếp, bồi bàn đổi thành phục vụ bàn hoặc tiếp viên; nghe có vẻ bình đẳng giai cấp hơn.
3.
 Ở thành phố, tôi không trực tiếp chứng kiến cảnh bom đạn chết chóc, nhưng qua nét mặt lo lắng căng thẳng và lời bàn tán xôn xao của người lớn, tôi biết chiến tranh đã lan rộng. Tối tối, cha tôi thường ôm cái radio standard cũ, mở Đài BBC nghe tin chiến sự. Trên đường phố đã thấy xuất hiện nhiều tốp lính Mỹ xí lô xí la, tìm vào các quán bar để vui chơi... Một số người buôn bán và các cave giao tiếp với lính Mỹ bằng thứ tiếng Anh "ba rọi", gọi là TIẾNG BỒI, kiểu như: "Du ghíp mi chặp chặp" hoặc tiếu lâm hơn: "Ô kê thôi!", "Ô Kê nữa!", ''Ô Kê đừng"...
Một hôm, tôi tình cờ nghe được bà chị họ nói chuyện với mấy cô bạn bên nhà: "Tốt lành chi cái con ấy! Đi làm BỒI PHÒNG cho Mỹ đen mà chưng diện như minh tinh màn bạc xinêma, lại còn vênh mặc ta đây! Đồ không biết xấu hổ!". Vốn là đứa trẻ tò mò, ưa hóng chuyện người lớn, chắp vá nhiều nguồn thông tin nghe lóm được, tôi mới biết bồi phòng là nghề mới: chuyên lo dọn dẹp, giặt giũ màn mền, trải ra xếp gối... trong phòng ngủ của các sĩ quan Mỹ. Thời bấy giờ, người làm nghề này bị xã hội ngầm coi thường, khinh miệt. Sau này, tôi được biết thêm nhiều chị, nhiều cô làm nghề này trở thành mẹ bất đắc dĩ của những đứa con lai Mỹ, lai Đại Hàn; tủi nhục đắng cay hơn hết là sinh con lai Mỹ đen. Cũng may và an ủi phần nào cho các chị các cô từng làm bồi phòng và rơi vào hoàn cảnh cười ra nước mắt đó: mười mấy năm sau, cả mẹ lẫn con lai được ưu tiên bảo lãnh đi định cư tại Huê Kỳ. Hiện nay, tại các khách sạn đều có bộ phận chuyên lo dọn dẹp vệ sinh trong phòng ngủ của khách, nhưng người ta không gọi là bồi phòng, mà gọi là nhân viên phục vụ phòng.
 
Khoảng vào những năm 1965-1975, ở miền Nam tại các rạp ciné thường chiếu phim về các chàng trai chăn bò ở vùng Viễn Tây-Texas Mỹ, mặc đồ Jeans, đội mũ rộng vành, vừa phi ngựa vừa bắn súng nhanh như chớp, chiến đấu với các bộ lạc Da Đỏ. Loại phim hành động mang tính nghĩa hiệp kiểu Mỹ này được người Việt mình gọi chung là phim CAO BỒI. Nhưng chữ BỒI ở đây chẳng dính dán gì với các loại "bồi" vừa nhắc ở trên. Đây chỉ là Việt hoá phiên âm từ Cowboy (chàng trai chăn bò).
4.
Trước 1975 ở miền Nam, cũng như hầu hết các nước theo chế độ dân chủ hiện nay, toà án luôn có một bộ phận quan trọng giúp chánh án khi xử án, đặc biệt đóng góp ý kiến trong phần nghị án, trước khi toà tuyên án. Bộ phận này các nước gọi là "Bồi Thẩm đoàn". Ở toà án Việt Nam hiện nay, bộ phận này được gọi là "Hội Thẩm Nhân dân". Có lẽ người ta kỵ chữ "Bồi" và thêm vào chữ "nhân dân" cho có vẻ... dân chủ hơn!?
5.
Đầu những năm trung học, tôi bắt đầu ôm mộng văn chương chữ nghĩa, tập tò làm thơ phản chiến và thơ tình tưởng tượng yêu đương sướt mướt, mộng mơ kiểu học trò trường huyện. Sợ tôi quá mê nàng thơ... thẩn mà xao nhãng việc học hành, ( thời đó học hành lơ mơ, thi rớt tú tài là à-lê-hấp xếp bút nghiên lên đường vào quân trường Đồng Đế), nên gia đình gởi tôi vào học trường nội trú để các Frère (Sư Huynh Công Giáo) kèm cặp cho chắc ăn. Tại trường nội trú này có một thư viện thuộc loại tầm cỡ... quốc gia, với đủ loại sách báo, tư liệu nhiều thể loại khác nhau. Tôi vốn là đứa mê sách báo ngay từ khi còn nhỏ, nên vào đây như cá gặp nước. Tôi tranh thủ giờ rảnh đọc ngấu nghiến đủ loại sách báo.
 
 
 
 
Sau này, tôi mới nghiệm ra rằng: các cụ nhân sĩ trí thức thời Pháp thuộc thật tài ba, dũng cảm và tâm huyết với nền văn hoá- văn học nước nhà biết bao! Dù nhà cầm quyền lúc bấy giờ có chế độ kiểm duyệt khá nghiêm ngặt, nhưng các cụ vẫn ra được báo có chính kiến riêng và lập nhà xuất bản tư nhân, để cổ xuý dân sinh nhân quyền, đồng thời phổ biến các tác phẩm văn chương quốc ngữ của các nhà thơ nhà văn chân chính. Thời đó cũng có một số người cầm bút làm tay sai cho giới cầm quyền, viết bài nịnh quan nhớn, tâng bốc "mẫu quốc"... Các cây bút đó bị các cụ nhân sĩ trí thức "phong" cho hỗn danh đáng khinh miệt là Văn Nô- Bồi Bút.
 
Sau năm 1975, xã hội có nhiều biến động đổi thay, trên sách vở báo chí xuất hiện nhiều từ mới lạ; ví dụ như: khuyết điểm sai lầm đôi khi rất nghiêm trọng gọi là "tồn tại"; công quỹ bị cắt xén, ăn cắp gọi là "thất thoát"...v.v... nghe rất trừu tượng, mơ hồ. Hiện nay, vẫn còn nhiều người tự xưng là nhà báo, nhà văn, nhà thơ nhưng lại chuyên bẻ cong ngòi bút, nịnh nọt kẻ có chức có quyền, tâng bốc trọc phú lắm của nhiều tiền, xuyên tạc sự thật làm hại người ngay thẳng lương thiện... Những kẻ như vậy Giấy Rách tôi không biết gọi bằng gì cho phải đạo?! Giấy Rách tôi đem thắc mắc này hỏi Tiến sĩ Giấy Vụn; thầy cau mày nhăn trán suy nghĩ hồi lâu rồi nói: "Thầy đang phân vân giữa hai chữ BỒI và TẶC, chưa biết chọn chữ nào cho hợp...thời trang kiêm thời thế!?" ?!?!?!
 
Thạc sĩ GIẤY RÁCH
 
Các ảnh sử dụng trên trang này NGUỒN: GOOGLE