Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

LỮ HÀNH CÔ ĐỘC THƠ NGUYỄN TẤN CẢ

                                                                                                           HUỲNH MINH TÂM
 
 

                                        LỮ HÀNH CÔ ĐỘC THƠ NGUYỄN TẤN CẢ

 

Cách nay khoảng trên dưới 15 năm, Nguyễn Tấn Cả xuất hiện trên bầu trời thơ ca Quảng Nam như một “ vì sao sáng”, một hiện tượng thơ lạ. Nhìn vào người anh lúc ấy, dáng người thì nhỏ thó, gương mặt ‘ non choẹt”, ít tiếng kiệm lời, nhưng đọc thơ anh như chạm phải “ bàn thạch”. Một giọng thơ triết luận già hơn tuổi, khí phách “ ngang tàng”, mạnh mẽ, phóng khoáng. Tôi nhớ mãi một bài thơ ấn tượng của anh,  đề  tài cũng viết về con người cô độc, nhiều hy sinh cống hiến:

 

 

              CHẠM TRỔ                                                                                                              

 

Thương tiếc Kazimirz Kwiatkowski, kiến trúc sư Ba Lan,                                                           

đã có công lao phục chế những ngôi tháp Chàm Việt Nam.

 

          Tôi nhận ra ông qua tấm hình trên báo

          Nụ cười sáng dằn lòng tôi đằm lại                                                             

          Ký ức vấp tàn cây nhào ngã

          Ông hiện lên dìu đỡ bước tôi đi.

 

          Mười bảy năm ông sống với Mỹ Sơn

          Với Chiên Đàn, với âm vang phố cổ

          Với đường nét phục nguyên, với suy tư chạm trổ

          Triều đại cựa mình loang lổ vết thời gian

 

          Mười bảy năm như hòn tháp có chân

          Cứ lội mãi vào đời người viễn xứ

          Ngọn tháp lên bờ thì tim ông ắp ứ

          Tiếng gọi phía này, linh cảm bên kia…

 

Từ ấy, nhà thơ Nguyễn Tấn Cả dần dần chiếm cảm tình cảm hứng bạn đọc gần xa  vùng dất Quảng Nam.

 

Nguyễn Tấn Cả có bút danh Xuân Kỳ , sinh năm 1976, quê Núi Thành, hiện ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Sau một thời gian yêu mến thơ anh, ngỡ đời sống anh cũng nhiều hào quang, hạnh phúc, thì bạn đọc chợt nhận ra Nguyễn Tấn Cả cô độc-đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Anh chỉ sống một mình tại một ngôi nhà vách lá đơn sơ trong một xóm nhỏ bên một con hẻm nhỏ ở một góc phố nhỏ Tam Kỳ. Hàng ngày công việc của anh cũng chỉ là… “ đọc sách làm thơ”, bạn với chiếc bàn con, với giấy bút, đi chợ và lủi thủi nấu ăn một mình. Bởi vậy chăng nên những trang thơ trang viết của anh có sức nóng của đời sống, có nỗi niềm xao xác, rất gắn bó với từng hơi thở của nhịp sống tưởng chừng đôi lúc mong manh dưới cái bề nổi ồn ã ồn ào của chung quanh. Và trong thơ anh có những giấc mơ trần thế đầm ấm, tươi đẹp

 

Tôi phải về quê hương Trà My

Tìm điệu nhạc mẹ gieo trên rẫy

Ươm mùa xuân nơi rừng khô cỏ cháy

Sông Trường chảy vào tôi nỗi nhớ buôn làng

 

Tôi phải về trước lúc hoàng hôn

Bày bán giấc mơ cũ càng cho núi

Vị quế cay tháng ngày lầm lũi

Người Cơ Yoong bắt đất trả màu xanh

 

Phải về thôi, mảnh đất ấy đang chờ

Xin trả lại trời cơn mưa vô nghĩa

Tôi vội uống ngày xuân ngâm trong bầu rượu nắng

Tháng giêng ngỡ ngàng chưa kịp lên men

                                                        ( Rượu Nắng)

 

Quê hương thấm vào anh qua giấc mơ và tâm trạng. Lữ hành cô độc thơ Nguyễn Tấn Cả vẫn rong ruổi trong khát vọng thơ mãnh liệt, một tình yêu quê nồng nàn, một giọng thơ vạm vỡ, mê say

 

Ta có còn cám cảnh một cơn mưa

Cơn mưa sẫm ngút ngàn Trà Kiệu

Cơn mưa sẫm những điều ta suy nghĩ

Rạc cẳng với đời nào đuổi kịp Xi-va

 

Rồi sẽ buồn không biết Tân-da-va

Vũ điệu bỗng như cành cây khô cứng

Lũ tiểu yêu quây quần hun khói lửa

Mặc linh hồn lẩy bẩy cuối màn mưa

                   ( Vũ điệu Xi-va)

 

Thời kỳ này anh viết thật sung mãn, anh đọc, nghiên cứu nhiều mảng về văn học nghệ thuật, và rất nhiều dự định cho đời sống và thơ ca. Tôi nhớ có một dịp, ghé nhà anh nằm chơi, trò chuyện vài ba đêm, cùng tâm trạng của những kẻ lãng mạn, chỉ yêu hoa cỏ, gái đẹp, chứ không màng chi đến tiền tài, danh vọng. Anh dốc bầu tâm sự, say sưa kể về những giấc mộng sáng tạo thơ ca, bình luận, tung hứng ca ngợi những cây bút trẻ, những phong cách thơ mới mẻ, khác lạ. Dường như sâu thẳm trong lòng anh có một dòng chảy thơ ca bất tận, huy hoàng nào đó mà tôi không nắm bắt được Tôi có cảm nhận, anh thật cô độc trên hành trình sáng tạo ngôn từ

 

Chúng tôi ngồi ăn buổi tối

Bên những gương mặt nồng nã mồ hôi

Những gương mặt no nê giận dữ và đói lời êm dịu trên môi

Chúng tôi nói về nước mắt xanh xao bầy đom đóm

Họ há hốc miệng đen ngòm tự thú mệt mỏi

Chúng tôi nói về miếng thịt thơm đùa cợt trong miệng

Họ chìa gương mặt bợt tấm thớt chờ được sẻ chia

 

Chúng tôi nói các anh đừng như đàn kiến kiếm mồi

Họ vung ra cánh tay ghẻ lở

 

Và chúng tôi bắt tay với họ

Siết chặt làn da thô nhám

       ( Một bữa ăn)

 

Một bài thơ hay, một đề tài có sức nặng, một tầm tư tưởng chia sẻ lớn lao. Nói như ý nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức là đã “ vượt xa ụ rơm nông thôn”  để bước ra “ tầm thế giới” !. Bút pháp thơ văn xuôi hiện đại, nhịp điệu dịu dàng, quyến rũ. Qua “ một bữa ăn” thấy được tâm trạng của con người, nghịch cảnh của xã hội, lòng từ ái. Thử đọc qua một bài khác

 

Trong bề bộn gương mặt tôi nghe những nếp nhăn cười đùa

Những tế bào da nổi cơn sốt sắc màu giới tính

Thời gia đạp chân khổng lồ lên từng sợ hãi

Giẫm bẹp hoài nghi về nước mắt con người

 

Trong ồn ào Người vẽ vào giấc mơ tôi cánh rừng ám khói

Ba-dan khát đường bay của đàn chin Chrao

Khát trận mưa vỡ mặt lá rừng

Những dòng nước cuộn sôi tầng tầng đá sỏi

 

Trong im lặng Người đặt hoa thơm vào bình minh đời tôi

Hương lan ra niềm kiêu hãnh ruông vườn

Tôi ôm đất như ôm từng nấm mộ

Mắt tôi chạm câu thơ lại gặp mắt người

                    ( Đường bay)

 

Một giọng thơ triết luận, phản tỉnh về nỗi sợ hãi, về bóng đêm của tâm hồn và tiếng gọi một đời sống phong nhiêu, cao cả. Đọc bài thơ, ta có cảm giác hãy vứt bỏ những lo toan vất vả tầm thường để hướng đến nội giới, một điều huyền diệu nằm bên ngoài những uy nghĩ, công việc vụn vặt, chắp vá. So sánh có thể khập khiểng, nhưng ánh mắt giao hòa giữa Nguyễn Tấn cả và R. Tagor-Nhà thơ vĩ đại của đất nước Ấn Độ hé lộ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn. Hoặc là những bước chân khát vọng cùng đi tìm hải đảo, quê hương mộng ảo của thơ ca, gặp nhau ở bến bờ cô độc, hồn nhiên. Thơ hay tự nó xác lập một giá trị mới mẻ.

 

Một thời gian dài 4, 5 năm Nguyễn Tấn Cả đã bỏ quê xứ, đi theo tiếng gọi của “ người huyền nhiệm thơ ca và tình yêu”. Biệt vô âm tín. Những bạn thơ đất Quảng nhiều lúc thương nhớ anh, không đọc được bài thơ mới nào của anh, đâm ra thương tiếc ngớ ngẩn. Bất chợt anh về Quảng Nam, đọc thơ giọng đầm ấm, thơ hay và mới. Thơ Nguyễn Tấn Cả lại có một sức hút về ngôn từ và ý tưởng, dẫu vậy vẫn mang một chất liệu vững chải, một nỗi niềm da diết miên man nào đó không trộn lẫn với ai. Không biết thơ chọn anh hay anh chọn thơ mà mỗi bài anh viết đều có cấu trúc lạ, một diễn ngôn mới

 

ấm trà nóng lên

không ruồi muỗi nào dám đậu

chẳng bàn tay nào vuốt ve

chỉ còn ta

uống hơi thở chè xanh

cặn chát khằn xác lá

………

Ô hay! Những con phù du

Reo mừng tự do

Bên cái chụp đèn

Một đời ấm

Chảy vào ta

Lạnh ngắt

Một đời đèn

Đỏ lửa

Sáng hoa tim

  ( Ấm trà và ngọn đèn)

 

Những câu thơ ngắn nhưng có sức lan tỏa về một nỗi đau đớn chân thật, cảm nhận cái phù du và ảo tưởng đời người, nhân sinh cũng là đề tài muôn thuở của thơ ca, để cảm nhận sự cô độc trong lặng lẽ mang mang trời đất, để có một hướng nhìn một lẽ sống tốt đẹp.

Hay đọc

Tôi giặt áo bên chiếc cầu tre hẹp

Bao năm rồi áo phủ mặt đáy sông

Cha tôi khóc cánh cò nghiêng  mảnh vá

Đường chỉ sờn theo mội nước…lôi đi

 

Tôi bít lỗ mội bằng nắm xôi cúng giỗ

Hai tay nâng lát đất đặt lên đầu

Máu của đất hòa tiếng cười của bể

Võng nước này lay lắt xác thân tôi

                  ( Mội nước)

 

Chất hiện sinh đẹp, trữ tình, hóm hỉnh. Đăm đắm, thẫn thờ những nét đẹp quê hương trong nét văn hóa lâu bền, nhưng gợi những chông chênh, mong manh của thân phận. Thân phận cô đơn của tác giả lầm lụi với nỗi nhớ cha thương mẹ-một ảo vọng nhưng lại là hy vọng, ngọn lửa của đời sống còn nhiều nghiệt ngã. Đọc thơ Nguyễn Tấn Cả càng khẳng định một nhận định, thơ ca là tiếng nói, đồng vọng của tâm hồn và số phận. Câu thơ lênh đênh sóng nước nhưng chở người qua sông. Câu thơ vật vả khó nhọc nhưng cho con người sức mạnh và niềm tin. Không dưng mà lữ hành cô độc Nguyễn Tấn Cả xem thơ là ngọn đèn của chân lý, là báu vật độc nhất vô nhị của trời đất ban tặng cho con người.Chính vậy thơ thật thiêng liêng, tình yêu thật nồng đượm

 

Tôi gặp rạ thấm mình ướt sượt

Cỏ nổi nênh say bọt khí tanh nồng

Bầy châu chấu búng luống cày căng nhức

Đất nhũn vồng cơ bắp chảy hai vai

                       ( Mội nước)

 

Những năm tháng gần đây, trụ xứ quê nhà, không chỉ có thơ, Nguyễn Tấn Cả còn thử bút ở lĩnh vực văn xuôi: viết truyện ngắn, tạp bút, ký. Điều dễ nhận ra là các trang viết của anh đều đau đáu tâm trạng cô đơn hòa quyện với tình yêu quê nhà nồng đượm, những “ thương nhớ đồng quê…”, và cũng đã có một số ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc gần xa, dẫu không quá ồn ào. Có cảm nhận, con người “ dáng vóc triết gia khô khan”  những năm xa lăng lắc đã thay đổi khá nhiều. Anh hoạt bát hơn, chuyện trò vui hơn, ít “ ngang ngạnh” như thời trai trẻ. Bút pháp cũng đằm và chững chạc hẳn. Nhưng vẫn lủi thủi bếp núc với cô độc sáng tạo thơ ca, cùng với một cây bút  thơ “ trẻ” khác là anh Nguyễn Đức Dũng, mở ra một sắc thái riêng thơ Nam Thu Bồn. Nguyễn Tấn Cả ơi! Lữ hành cô độc đến bao giờ ?

 

Huỳnh Minh Tâm

Gv trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ, Đại Lộc, Quảng Nam

ĐT 0122 306 8721

Lên sóng lúc 15:33 ngày 17.02.2013