Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

Mấy cái sai ở sách ĐỊA CHÍ

                                                             QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
                       PHAN THANH MINH

 

 
 
 
Hồi tháng 9 năm 2010, Tỉnh ủy Quảng Nam và Thành ủy Đà Nẵng công bố phát hành cuốn sách Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng do Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội ấn hành. Phải công nhận rằng, đây là công trình khoa học có quy mô cả chiều rộng lẫn chiều sâu từ trước đến nay. Sách đề cập nhiều lĩnh vực: từ địa lý tự nhiên, hành chính đến lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, danh nhân… đất Quảng. Sách do các nhà nghiên cứu văn hóa Thạch Phương, Nguyễn Đình An chủ biên và gần 20 nhà văn hóa, nghiên cứu lịch sử, 70  cộng tác viên tiếng tăm cùng với 13 người có trách nhiệm khảo duyệt bản thảo. Sách được nhiều tờ báo, tạp chí trong nước giới thiệu như là “bách khoa toàn thư” về một vùng đất.

          Do quy mô của cuốn sách có độ dày gần 2.000 trang, khổ 16 x 24cm và đề cập nhiều lĩnh vực nên người viết bài này chưa thể đọc hết và hiểu hết các nội dung của công trình. Bằng sự hiểu biết và tham khảo các nguồn tư liệu đáng tin cậy, chúng tôi xin được nêu ra mấy điều sai ở cuốn sách này để bạn đọc xa gần góp ý xây dựng:

          1. Nói đến địa lý hành chính, sách có viết: “Cho đến cuối năm 1972, thị xã Đà Nẵng gồm 3 quận với 28 khu phố. Trong đó Quận III có 7 phường: Nam Thọ,  Mân Quang, Mân Thái, An Hải Tây, Phước Mỹ, Nại Nghĩa, An Hải Băc” (tr.192).

          2. Nói đến việc hợp nhất hai đơn vị hành chính thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, sách viết: “Ngày 20-9-1975, tức là 6 tháng sau ngày thành phố Đà Nẵng được giải phóng (29-3-1975), hai đơn vị hành chính thành phố Đà Nẵng được hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng” (tr.598).

          3. Nói đến giáo dục và đào tạo, sách viết: “Theo thống kê ở thành phố Đà Nẵng, năm học 1971 – 1972, bậc tiểu học có 32 trường công gồm 585 lớp và 23 trường tư thục gồm 520 lớp. Bậc trung học có 9 trường công, trong đó đáng chú ý là các Trường trung học Phan Châu Trinh, Trường Nữ trung học, Trường trung học Hoàng Hoa Thám, Trường Nguyễn Trường Tộ, Trường Thái Phiên… với 136 lớp (tr.1155).

          4. Nói đến các nhân vật, sách viết:

          4.1 “Trần Quang Diệu (? – 1802) không rõ năm sinh, nguyên quán làng An Hải Tây, nay là phường An Hải Tây, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” (tr.1619).

          4.2. “Nguyễn Văn Thoại (1701 – 1829) ông quê làng Bắc Mỹ An, huyện Diên Phước, trấn Quảng Nam, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tên thật là Nguyễn Văn Thụy, do kỵ húy mà đổi là Thoại” (tr.1564).

          4.3 “Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) […] nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Năm Canh Tý (1900) đỗ giải nguyên, năm Giáp Thìn (1904) đỗ hoàng giáp lúc 28 tuổi”  (tr. 4491), nhưng khi nói đến “Trần Quý Cáp (1870 – 1908) […] năm Giáp Thìn (1904), qua kỳ thi Hội đến thi Đình, ông trúng cách trên hai vị hoàng giáp là đình nguyên là Đặng Văn Thụy (Nghệ An) và Hội nguyên Huỳnh Thúc Kháng (Quảng Nam) (tr.1620).

          5. Nhận định về lĩnh vực ngư nghiệp, sách viết: “… mặt bằng dân trí của ngư dân thường thấp, thua cư dân làm nông nghiệp ở vùng đồng bằng” (tr.641).

 

          Với những dẫn chứng trên đây, người viết bài này xin được nói lại cho rõ:

          1. Trước năm 1972, Quận III thuộc thị xã Đà Nẵng không có tên phường An Hải Tây mà chỉ có tên khu phố An Hải. Từ năm 1972, khu phố An Hải chia thành An Hải Bắc và An Hải Nam (Viện Sử học, Lich sử thành phố Đà Nẵng, NXB Đà Nẵng, 1996, tr.249). Sau năm 1975, phường An Hải Nam chia thành An Hải Tây và An Hải Đông.

          2. Việc hợp nhất hai đơn vị hành chính thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng từ năm 1975 không phải là “hai đơn vị thành phố Đà Nẵng được hợp nhất” mà là hai đơn vị: tỉnh Quảng Nam và đặc khu Quảng Đà (đơn vị hành chính của chính quyền cách mạng có địa giới hành chính từ huyện Duy Xuyên đến phía Nam đèo Hải Vân, thành phố Đà Nẵng là đơn vị hành chính thuộc đặc khu Quảng Đà) được hợp nhất theo Nghị quyết 245/NQ/TW ngày 20-9-1975 của Bộ Chính trị (Địa chí QN –ĐN, sđd, tr.792).

          3. Năm học 1971 – 1972 ở thành phố Đà Nẵng không có Trường trung học Hoàng Hoa Thám. Tên trường trung học Hoàng Hoa Thám có từ năm học 1975 – 1976 trên cơ sở Trường trung học Đông Giang có trước đó. Người viết bài này bắt đầu vào học lớp 6 trường ấy từ năm học 1971 – 1972, sau ngày giải phóng năm 1975 vẫn tiếp tục học đến năm 1978. Hiện tại tôi vẫn còn lưu giữ một số giáy tờ liên quan: học bạ, bằng tốt nghiệp.

          4.

          4.1 Như nói ở phần 1, trước năm 1972 không có tên làng An Hải Tây, chưa bao giờ phường An Hải Tây thuộc quận Ngũ Hành Sơn mà thuộc quận Sơn Trà. Hiện nay, quận lỵ Sơn Trà đóng trên địa bàn phường An Hải Tây.

          4.2 - Tên phường Bắc Mỹ An (nay là Mỹ An và Khuê Mỹ) có từ sau năm 1975, đơn vị hành chính này không thuộc quận Sơn Trà mà thuộc quận Ngũ Hành Sơn.

                - Nói đến nhân vật Nguyễn Văn Thoại có tên thật là Nguyễn Văn Thuỵ do kỵ huý mà đổi  thành Thoại không có cơ sở (?). Vì rằng, tên kỵ huý là “Thuỵ” thì chính  “Vĩnh Thuỵ”  (vua Bảo Đại – con trai Khải Định) cũng phải kiêng(!?).

          4.3 Theo học giả Đào Duy Anh, “hoàng giáp” là người đậu tiến sĩ đệ nhị giáp trong khoa thi Đình thí (Hán Việt từ điển, NXB VH-TT, 2005). Riêng chuyện cụ Huỳnh Thúc Kháng thi cử, xin được trích nguyên văn lời của cụ: “Thành Thái năm 16 (Giáp Thìn – 1904). Thi hội, tôi đỗ đầu (Hội nguyên); thi Đình đỗ Tam giáp, đồng tiến sĩ, đỗ một lần với Trần Thai Xuyên (Đặng quân Văn Thụy đỗ Nhị giáp, Đình nguyên, đến Trần quân Trần Quý Cáp, đến Huỳnh quân Kiêm, đến tôi, đến Hồ quân Sỹ Tạo, đến Nguyễn Mai, Phó bảng Tạ Thúc Đỉnh, Huỳnh Cư, Nguyễn Đình Tiến, Thân Trọng Ngật, Nguyễn Tư Tái, chánh phó cả thảy 11 người …” (Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, NXB VH-TT, 2005, tr. 32-33).

          Như vậy, Huỳnh Thúc Kháng đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ và đứng sau Trần Quý Cáp chứ không phải đỗ Hoàng giáp (đệ nhị giáp)  như sách Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng nêu.

          5. Học giả Đào Duy Anh không giải thích riêng từ “dân trí”, mà trong mục từ “dân trí khai thông” được định nghĩa: “trí thức của nhân dân được mở rộng – desveloppement intellectual du people” (sđd), còn theo nhà Hán Nôm học Phan Văn Các, “dân trí” được giải thích: “trình độ hiểu biết của nhân dân” (Từ điển từ Hán Việt, NXB tp HCM, 2001). Do vậy không thể lập luận so sánh  “mặt bằng dân trí” theo các lĩnh vực ngành nghề, địa bàn cư trú như nhận định của sách.

          Trước thế kỷ XX, nước ta vốn là nước nông nghiệp tự cung tự cấp, nên cư dân nông nghiệp ít có điều kiện ra khỏi địa bàn cư trú của mình, trong khi đó những người buôn bán chuyến và ngư nghiệp thường đi đây đi đó ( “đi một ngày đàng học một sàng khôn”) nên trình độ hiểu biết của cư dân ngư nghiệp ít bó buộc như cư dân nông nghiệp. Từ xưa, kinh nghiệm về dự báo thời tiết của cư dân ngư nghiệp rành mạch hơn cư dân vùng nông nghiệp (theo kinh nghiệm dân gian). Mặc khác, từ đầu thế kỷ XX, khi bộ ba Phan Châu Trinh – Trần Quý Cáp – Huỳnh Thúc Kháng ở Quảng Nam khởi xướng phong trào Duy Tân và làm cuộc Nam du để vận động, đến Phan Thiết, cư dân ngư nghiệp và những người có học thức hưởng ứng ngay cuộc vận động, công ty Liên Thành được thành lập trên cơ sở cuộc vận động của các cụ theo khẩu hiệu; “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

          Mong rằng những nhà biên soạn sách, những người có trách nhiệm phải đính chính những sai sót này.

          Đôi lời được trao đổi.
 
 
PHAN THANH MINH