Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

MỘT HOÀNG THÀNH THƠ QUẢNG NAM - Nguyễn Giúp

 
Tối ngày 03.02.2012( mười hai tháng giêng năm Nhâm Thìn), Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam kết hợp với Ủy Ban Nhân dân Huyện Điện Bàn đã tổ chức đêm thơ Nguyên Tiêu lần thứ X, tại Trung Tâm Văn hóa Thể thao huyện Điện Bàn. Đêm lễ hội diễn ra trang trọng, hoành tráng, nhưng cũng rất sinh động với sự sắp đặt không gian thơ- nhạc, các câu thư pháp và các bài thơ, ca khúc của các tác giả ở vùng đất “ chưa mưa đà thắm” : Nguyễn Chiến, Đỗ Thượng Thế, Phạm Tấn Dũng, Nguyễn Đức Dũng, Phan Văn Minh, Ngọc Phước…
 
Trước đó, vào lúc 14 giờ, cùng ngày, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam kết hợp Trung tâm Văn hóa Thể thao Điện Bàn tổ chức giới thiệu 2 tập thơ : “Như cỏ dại như lá úa như cây xanh” của 5 tác giả : Nguyễn Chiến, Phạm Tấn Dũng, Phùng Tấn Đông, Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế, và Tập thơ “ Phía Tàn Tro” của Phương Dung. Buổi tọa đàm diễn ra trong không khí đầm ấm, vui vẻ. Xin giới thiệu ở đây  bài viết của Nguyễn Giúp- Hội Viên của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam, mà anh đã đọc trong buổi ra mắt 2 tập thơ trên.
 
                                  
 
 
MỘT HOÀNG THÀNH THƠ QUẢNG NAM
                 “Như cỏ dại như lá úa như cây xanh”

                                                                                            NGUYỄN GIÚP
 
   Tựa những âm thanh bật ra từ cỏ mọc, mơ hồ một tiếng lá rơi hay một tiếng tách mầm bật nụ. Và, bỗng dưng tôi lại có cảm giác như mình vừa được nhìn thấy năm con người cùng nắm tay nhau băng băng rừng phong thu ! Mặc cho vòng quay sinh tử, cho kiếp người, kiếp đời họ
đang lao về phía chúng ta. Đó là các anh, các nhà thơ quen thuộc: Nguyễn Chiến, Phạm Tấn Dũng, Phùng Tấn Đông, Huỳnh minh Tâm và Đỗ Thượng Thế. Họ đã bật tung nắp thùng rượu được ủ kín từ trăm năm bị lãng quên trong khuôn viên khu hoàng thành thơ mà các anh vừa mới tự khai quật nó. Ồ, tại sao “như cỏ dại“, “như lá úa” và rồi “như cây xanh” nhỉ? Hình như khi đặt tên cho tập thơ in chung mà các anh đã đồng tình khai sinh, các anh như cố tình không đặt nó vào một trật tự nào cả, như bất chấp mọi lý trí của ngôn ngữ, các anh đã mở bung lồng
ngực của mình ra trước những cơn gió ngược, các anh đem sức sống cỏ hoang đọ với môi trường đầy ô nhiễm và bẩn thỉu kia, chả là bất an đấy sao (!?): “ con chim núi là ta hay ta là con chim núi/ vút một tiếngtắt cổ/ bi thương và mê ly/ tháng mười một vầng trăng giếng nước”
(tình yêu tháng mười một - Huỳnh Minh Tâm). “ nhói hơi thở về nhau/ ngực tràn cơn tầm tả/ lời tươi trong/và giấc mơ dài/ giạt qua bàn taytrơn” (cơn mưa sau cùng – Đỗ Thượng Thế). “…chính hắn tưởng tượng hắn là tên rà phế liệu mưu sinh là người gỡ mìn…” (trình diễn thơ – Phùng Tấn Đông). “ những dòng sông chảy ngược/du du/ dẫn dẫn/ trong anh” (nghịch sông – Phạm Tấn Dũng). Và, một hoài niệm chưa được đầu thai, hóa kiếp của Nguyễn Chiến: “ kỷ niệm như rong/ quấn lòng ngã chúi/ Tôi ném lên trời/Buồng cau quan năm tiền cưới”( dòng sông ngày xa ).
 
  Đầu năm 2012 này tôi rất vui mừng cầm trên tay tập thơ “ Như cỏ dại như lá úa như cây xanh”. Tôi đọc lần lượt theo thứ tự từng tác giả, từng bài thơ, tôi lại có cảm giác như mình đang leo núi , càng leo càng mỏi, thực tình là đã quá mỏi đành phải ngồi nghỉ ngay ở đầu dốc mà thở! Nhưng cuối cùng đâu cũng vào đấy tôi bật dậy “leo” tiếp những con dốc dựng đứng đầy rủi ro, bất trắc để đến một hoàng thành thơ nguy nga và tráng lệ. Vâng, nói là một hoàng thành thơ và đã khai quật nó chưa hẳn là thơ của các anh chưa được khám phá hoặc chưa hề đọc tới mà “hoàng thành”ở đây nghĩa là cấu trúc thơ mang dáng dấp “cung điện“,“thành quách” đẹp lộng lẫy, bí hiểm và lạ lẫm trong mỗi chúng ta. Các anh viết: “ Những dòng sông rần rật hát lời câm/ rần rật khóc khuya/ rần rật những mạch ngầm âm ỉ đi trong mình/ nhưng không nhìn thấy mình” (nghịch sông- Phạm Tấn Dũng), “dự cảm về một bình an/ một đoạn lìa không kịp cứu” (về một mùa xanh xa- Phùng Tấn Đông), “ nỗi buồn quỷ dữ/ nàng là thơ-cõi miền trên cây thập ác/ nàng là thơ-thiên chúa tâm hồn”(Cứu rỗi- Đỗ Thượng Thế), “ ta đứng dưới mây nhìn mây bay/ ly sầu ly sầu mà chi cô đơn mà chi/ tháng mười một cài hoa lên tóc/ chảy trăng tứ xứ chuông ngân thánh thót chuông vọng hồi” (bài thơ tình yêu tháng mười một- Huỳnh Minh Tâm), “ Sẽ vất hết bạc vàng/ Bỏ lớp anh văn vi tính/ giả từ quán rượu/ Đổ xô đi học tiếng chim gù” (Ngày trái tim lên ngôi- Nguyễn Chiến). Họ quật khai lồ lộ những bài thơ những câu thơ như những ngôi nhà vừa cổ kính vừa hiện đại bởi sự pha trộn, qui ẩn đa âm sắc: “anh là con thi mã/ kéo niềm vui ngang trời/…”anh là con ngựa bạch/ trắng từ đầu đến chân” (Ngựa- Nguyễn  Chiến)”. “nước chảy hoa trôi/ chim kêu đầu ngõ, trăng lửng lơ đỉnh núi/ chó tru đêm tàn cô
độc” (câu chuyện đời con người ta- Huỳnh Minh Tâm)“….Thực ra từ “khai quật” này chỉ đúng cho những ai biếng lười không chịu đồng hành cùng họ để đến khi cần phải đưa ra nhận định về sự phát triển thơ của Quảng Nam hiện nay thì lại phán bừa : “khó theo kịp với trào lưu thi ca
đương đại ” hoặc giả cho rằng : “tổng quan chung về sự phát triển thơ ca của Quảng Nam trong những năm gần đây không có tác phẩm hay, không có tác phẩm nổi trội và ấn tượng”. Về phần này không chủ quan, nếu các anh mang tập thơ này đi thi tôi chắc các anh sẽ đoạt giải lớn của quốc gia! Một sự thật tôi được biết đa phần những tác phẩm của các anh HMT,
ĐTT, PTD in chung trong “ Như cỏ dại như lá úa như cây xanh” đã tung lên các trang mạng từ  lâu rồi.( riêng NC và PTĐ thì dường như ủ kỹ hơn). Bây giờ, đùng một cái năm người với năm trạng thái khác nhau, họ cùng xuất hiện ở một không gian, thời gian nhất định, chả là họ đã tự
“khai quật” họ đấy sao? Và, hơn thế nữa họ đã đồng loạt “nổ” ra chả là hợp âm chả là tiếng sấm đấy sao? Và, thơ họ rất đẹp, đẹp ở cách thể hiện cách tân, thể hiện ở những chạm trổ, ngóc ngách con đường đầy sắc màu nhưng không bị rối. Thơ họ như dòng chảy bất kham quanh co trầy trượt đang đổ dốc về những khu vườn hạ lưu trong niềm reo hoan tâm hồn
trong suốt: “ giận con đường/ không dẫn tới phía sau cầu vồng/ phía bên kia mặt trăng/ phía thiên hà triệu triệu năm ánh sáng (Giận- Nguyễn Chiến). Và, điều cuối cùng tôi muốn nói riêng với nhà thơ Nguyễn Chiến rằng anh cứ quay về đi đừng do dự, đừng mà :“ ngày xưa thì xa/ ngày mai dùng dằng không chịu đến” (Dòng sông ngày xa- NC), rằng anh đã có hoài niệm đẹp sao anh lại không mạnh dạn quay về, anh quay cứ quay về đi, về bên ấy có một mé sông Thu nằm đợi, bên ấy có tình yêu thuở đầu đời, bên ấy anh tha hồ quẫy đạp, tha hồ phất phơ tóc
gió trước dòng chảy của thi ca đương đại!
 
 
    Với Phạm Tấn Dũng, gần đây anh có một bài thơ khá nổi tiếng trong lòng bạn bè yêu thơ - “Không lời Mỹ Sơn”, những hoang tịch thăm thẳm từ trong tận đáy tâm hồn anh phát đi rồi lan dần vào đền tháp đã lột ra một Mỹ Sơn đầy bí hiểm: “ buồn như những cuộc tình không sinh
không nở/ buồn như tiếng gà bí ẩn xưa xa/ buồn đến thót tim những trưa đứng bóng/ lãnh lót tiếng gà ác mộng ngàn năm”.Tôi nghĩ anh phải mất nhiều giờ, nhiều ngày ẩn nấp nơi đây anh mới phát tiết được những câu thơ hay như thế! Thơ Dũng tứ rời, phóng khoáng, thả tràn, chảy và chảy. Đôi khi mê hoặc dẫn ta vào hoang mang tâm linh:”Nơi góc vườn kia/ Có loài cây thở hắt/ Đóa trăng non nở rộ/ Gió chừng như lặng yên / Cơn mơ không tự thức dậy/ Tôi sinh tôi ở mảnh vườn khác” (Vườn khuya- PTD). Tôi đã nhận ra anh : Một cốt cách thơ đặc trưng: luôn chủ động hướng đến sự phá rào và dâng trào những cảm xúc qua hình ảnh “quét“, “đuổi”,
“xé”,  “những vần mây lấm lem mặt trời”, “cởi áo nắng”, “buồn hoang phơi”, … cố tạo nên cái gân guốc trong thơ .Tôi thiển nghĩ nếu anh chọn lọc hợp lý và ứng dụng tài tình chút nữa thì thơ anh sẽ tự nhiên hơn và phù vân hơn trong không gian chiều u tịch, trắc ẩn một “tiếng
gà ” bí hiểm . Tính ưu việt thơ Dũng ở chỗ trù phú và phức hợp hơn hẳn người khác đó là sự chảy tràn, thơ Dũng như loài hoa dại được nuôi cấy, ghép phối tẩn mẫn trong vườn thượng uyển, chả là hoàng thành thơ mà chính anh đã tự khai quật đấy sao? Mong anh cứ hãy để thơ mình tự chảy tràn bất tận xuống những khúc ngặt nghèo- Đó cũng là sự lựa chọn cho mọi dòng sông khi chúng tự tìm đường về biển cả!
 
    Với Phùng Tấn Đông, thơ anh đã bàng hoàng và lắc lư khi gửi lòng mình vào dòng sông Thu : Trôi ký ức tôi em khăn gói gió đưa rời bến một ngày/Tôi đứng khóc những khúc sông vắng bờ xe nước” (Riêng với Thu Bồn). Mãi cho tới nay anh mới khoe ra trên giấy sách thơm những câu thơ mà anh đã chọn lọc kỹ càng, những câu khí chất sòng phẳng, dứt khoát mà độ lượng, những câu chữ đi hoang đến tận cùng rồi đứng đó như một bức tường và hỏi:”cầm chắc ta sẽ về chốn xưa nơi cũ/ tìm cách bao vây trở lại/ các bức tường/ em hỏi để làm chi ừ thì có để làm chi đâu” (gởi X) Khi một mình anh lại dự cảm:” tôi ơi, em ơi/ đừng nói đừng nhắc đừng gợi nhớ/ mùa thẳm xa/ những lau khô xám lạnh ven đường/… dự cảm về một bình an/ một đoạn lìa không kịp cứu”(Về một mùa xanh xa). Khi đứng trước thực tại thì anh lại là “người thổi kèn lá” để rồi anh nhận ra được những thanh âm đa sắc trước không gian chật hẹp của một con đường mưa: nào tiếng còi tàu, tiếng tù và, tiếng em, tiếng chó, tiếng tắc kè, tiếng gà, tiếng từ qui,..dẫn đến từ tiếng kèn lá dừa lá chuối mà gốc gác ở hơi thở “tru hú” của con người cũng không át nổi tiếng mưa dằng dặc! Hay, rất hay khi đã cấu thành phức cảm dịch chuyển đa âm sắc trong thơ! Và cuối cùng tôi đã nhận chân được bản ngã quyết liệt từ giọng thơ trừ diệt sự xuẩn ngốc, ngu mị, đội lót kinh kệ thâm ấn mê hoặc tâm hồn trong suốt vốn dĩ tự căn của mỗi con người đã sinh ra từ vô thủy vô chung! Thơ anh nhẹ và độ lượng đến phù du ngọt lịm:”Em tôi
ơi/ con chim phóng sinh đã bay về trời/ em đã đến và ta đã đến/ ta cũng em thôi nỗi đau phi giới tính/ về một mùa thơ ấu xanh xa/ huyễn hoặc con đường/ mệt mỏi thì ngồi nghỉ/ rồi hàng cây có những tán lá đan nhau” (Về một mùa xanh xa). Điều nữa với PTĐ : Anh đã cố tình hay
không cố tình  trong sự sắp đặt bài thơ cuối cùng trong 9 bài thơ mà anh đã chọn in chung trong tập thơ này với cái tựa khá độc đáo “trình diễn thơ”, bài thơ đã cõng trên lưng mình một khối con chữ khổng lồ, thú thực với các bạn khi đọc nó tôi như người leo dốc đã đuối chân mà
không có nơi nghỉ.Chả là hoàng thành thơ sao?
 
     Với Huỳnh Minh Tâm, tôi thích nhất là “ánh trăng” và “ghét” nhất là "cây hoàng lan bên hồ Thiền Quang”. Thích bởi vì những câu thơ đầy đặn và ấm, ấm đến sâu lắng và ngỡ ngàng: ”tôi vẫn còn giữ lại nhiều điều tốt đẹp/ đi uống cà phê mỗi sớm…/và đôi  lần trộm nghĩ/ về tình yêu
đầu đời/ những nụ hôn dang dở hoa lan thơm như sương” ( Ánh trăng). Và, “ghét” vì anh nói với tôi: “sao tôi lại ngồi với Thảo bên hồ Thiền Quang/ Sao những vạt nắng đêm he hé đâu đấy ” và “Sau ngàn năm nữa và có thể lâu hơn/ Là đôi hạt bụi/ Chúng ta lại trở về” (Cây hoàng lan bên hồ Thiền Quang - bài tặng cho Bùi Phương Thảo – con gái út của nhà thơ Quang Dũng). Thế thôi! Chỉ có tôi mới hiểu được Tâm vào những ngày ngắn ngủi mà dặm dài khi anh ra Hà Nội nhận giải thưởng thơ “ngàn năm Thăng Long” (ghét là ghét vậy, ghét vì tôi khôngnhư anh). Trong tập thơ in chung lần này, tôi đọc thơ Tâm và thấy thơ anh có dáng vóc như một con đường phân nhánh chạy mãi chạy mãi bất tận, dày dạn nhân sinh, hiện tiền quá khứ và tương lai sim tím, tóc bím, hội hè,.. :”Cồn cào chảy đất đai gió bạc hoa lau chim sẻ bay về làm tổ/ ríu rít bờ tre mùa thu rụng tóc giấc mơ trưa/ đâu dáng mẹ lưng ong đâu đồi sim tím/ đâu em tóc bím/ mười lăm đồng chiều đốt rạ mắt cay gọi trâu cùng hội tháng ba” (Giấc mơ quê nhà). Với 10 bài thơ mà anh đã “ kì khu thơ “chọn lọc, chúng ta không khỏi ngạc nhiên, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng với một hoàng thành thơ anh ? Nếu ai thực sự yêu thơ Huỳnh Minh Tâm chắc rằng sẽ được anh dẫn đi theo con đường bất lai bất tận. Khi quay lại chúng ta nên tự tìm đường về thì tốt hơn để anh ấy nắm tay mình!
 
     Với Đỗ Thượng Thế thì thơ anh rất rõ những đặc trưng hiphop, đọc thơ anh tôi thấy anh không thay đổi nhiều lắm đâu, anh vẫn cứ múa nhảy bên vỉa hè, bên ao quê, bên lùm cây, bên vườn rào quê nghèo đấy thôi. Thỉnh thoảng anh lại hú, lại gáy te tét và lần này có vẻ gân
guốc hơn, thoát hơi hơn, tròn trịa hơn lần anh “trích tôi” trong tập thơ đầu tay của mình. Lúc này tôi lại nhận ra thơ anh có giọng đặc trưng những thanh âm khắc kỷ nhưng đôi lúc anh cũng không tự kiềm chế nổi anh và vì thế anh lại “tự hỗn”,“tự sướng”: “gà gáy tét tét te te…/ chó thèm hơi chó/ lật nia lật nong mi cứ nằm tru mẹ” (Giấc cỏ chỉ). Thơ Thế lườm nguýt, răn đe chừng như không hề tha thứ nhưng đó chỉ là bên ngoài những the thé, nhưn nhức như cóc cắn hay loãng choảng tiếng thủy tinh vỡ đâu đó rồi nghe ra tưng tửng đến xót xa,  hỉ xả, bao dung:”Những trưa cao vọi bức tường/ chất lên lưng bò cái/ lặc lè lặc lè/ …” hoặc anh đột ngột  mô phỏng hình ảnh “Vasilo” bước tới bước lui khá ấn tượng về kí ức cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 :”Nấu cháo trích đoạn tắt đèn văn sĩ họ Ngô/ ca cẩm xuống hàng chưa ô li nhỏ/ Va si lô bước tới bước lui” (Đoản khúc con đường mười bốn). Và, anh lại bống bang:”Giữa dòng nỗi mình phơi cạn/ Ta lại mơ bống vàng từng lòng giếng/ Mây nghiêng mùa/ Soi bống bống bang bang…” (Giữa dòng). Tôi ngộ thơ anh như là một ráng đỏ vắt chéo nơi hoàng thành thơ “Như cỏ dại như lá úa như cây xanh” vậy!
 
 
       Tất thảy cả năm con người ấy họ đã hòa cùng dòng chảy thi ca đương đại, họ sang trọng trong áo mão ngôn từ, họ lộng lẫy trong cấu tứ, họ nguy nga trong kiến trúc, họ đầy ắp phức cảm trong cách diễn đạt, họ xứng đáng là một hoàng thành thơ của Quảng Nam trong lòng bạn
bè thi hữu .Và điều quan trọng hơn nữa mà họ đã làm được, đó là sự đồng điệu cùng “nhón nhón chân mơ” về phía chúng ta!
 
NGUYỄN GIÚP
 
NGUỒN: Huỳnh Minh Tâm gởi
Lên sóng lúc 07:30 ngày 05.02.2012