Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

NGÀY CỦA ANH - Vương quốc thơ của LÊ NHẬT ÁNH

                                                                                           TRỊNH SƠN
 
Nhà thơ - nghệ sĩ nhiếp ảnh LÊ NHẬT ÁNH
 
 
(Đọc “NGÀY CỦA ANH” – Lê Nhật Ánh – NXB Hội Nhà Văn,2013)

 

Trong cuộc rượu đầu xuân nhân dịp ra mắt tác phẩm “ĐỐI THOẠI VĂN CHƯƠNG: TRẦN NHUẬN MINH – NGUYỄN ĐỨC TÙNG”, tôi là đứa trẻ dại giữa bát ngát đa đề và những lời tranh luận về thi ca – học thuật đầy sôi nổi. Nhà thơ Vũ Quần Phương ghé vai tôi, nhắc lại lời của ông trước đó: 

- Không phải lỗi của nhà thơ. Cũng không phải lỗi của nhà phê bình. Lỗi tại thơ!

Cũng may mắn, trong cơn ngất ngây giữa thủ đô ngàn năm văn hiến tôi chẳng thể thuộc nổi một câu thơ nào của mình để “múa rìu” trước các bậc tao nhân mặc khách – bèn đọc nho nhỏ:

“Mỗi nhà văn là một ông trời

Thì anh làm nhà thơ vậy

Mỗi bài thơ là một phận người

Thì anh làm vần thơ nhỏ

Mỗi ngàn năm niềm chăn chiếu

Mỗi cuộc đời là những giấc hoa”

(NHỮNG GIẤC MƠ HOA)

Đây là một bài thơ trong tác phẩm “NGÀY CỦA ANH” của Lê Nhật Ánh (NXB Hội Nhà Văn – 01/2013). Tôi bén duyên cùng thơ Lê Nhật Ánh từ khi nào chẳng biết. Lạ một nỗi, những câu chữ giản dị mà có sức gợi nhớ dai dẳng và mãnh liệt hơn bao giờ – đặc biệt là trong mỗi hoàn cảnh mà độc giả được tự mình chiêm nghiệm bản ngã như nhà thơ đã từng trải và chắt chiu thành từng nét sáng tạo. Những câu thơ không chuộng nuột nà – hoặc, cái sự nuột nà nếu có, là bởi ánh sáng từ tâm người đọc soi chiếu vào chứ không do bàn tay tác giả cố ý dụng công nhào nặn:

“Đêm ngủ ở quê

Con muỗi làm như mình không phải người nhà

Nên cứ vo ve, rủ rỉ”

(ĐÊM NGỦ Ở QUÊ)

Tuyệt đỉnh công phu là quên được hết thảy mọi công phu. Cũng thế, hình thức cao nhất là không hình thức. Lê Nhật Ánh làm thơ như không làm. Không làm mà vẫn làm. Làm như chưa từng làm. Con muỗi ở quê là hình ảnh độc đáo hiếm gặp trong thi ca Việt Nam bấy lâu nay – người đời vẫn chuộng tiếng chim hót lộng trời cao, tiếng cá quẫy trăng vàng óng, tiếng lá trở mình tìm cơn vượt thoát – ở đây, người thơ bắt gặp và lưu giữ điều bình thường nhất, quen thuộc nhất với tâm tình Việt để nâng lên thành hình tượng của ám ảnh ly hương. Đi suốt 135 bài thơ, hẳn không ít độc giả dễ có cảm giác ngoái lại quê cũ, tìm lại hương xưa như chính Lê Nhật Ánh đang ký gửi tâm trạng và nỗi niềm của mình:

“Cố hương

Xa ngái miền quê Quảng

Còn nỗi ly hương cứ ở gần”

(CAM AN BẮC)

Nỗi ly hương – qua cái nhìn xa thẳm của người nghệ sĩ – trở thành một sinh vật kỳ diệu – hơn cả nỗi buồn, hơn cả niềm thương nhớ. Ly hương có mắt có lưỡi để nêm nếm cõi ngày đêm:

“Làm sao trở lại ngày xưa

Khi giấc mơ nặng nhiều cơm áo

Thôi thì đêm nay ngủ

Như ngày xưa…”

(CẨM Y THÔN)

Chao ôi! Ngủ, vẫn tưởng chỉ là một trạng thái của tự nhiên như ăn uống, đi đứng, nói cười. Người nghệ sĩ đa cảm và có phần nào đó ít nhiều khe khắt với chính bản thân mình, bắt cái ngủ cũng phải sống dậy, cũng phải vươn lên, cũng phải có tâm tính linh hồn như người ta. Muốn đạt đến thế, sự tỉnh thức hẳn là phải kinh qua trùng trùng suy tư – chứng thực chính sự tồn tại của mình. Vần thơ tưởng chừng nhẹ tênh:

“Thôi thì đêm nay ngủ

Như ngày xưa…”

Nhưng sức ẩn chứa và cam chịu trong chiều sâu của nó thật chẳng dễ gì đo được. Ngày xưa là ngày xưa nào? Một trời liên tưởng mỗi độc giả được thỏa sức bày biện theo trí nhớ và ký ức của riêng mình. Đó là kỷ niệm, là tuổi ấu nhỏ, là hạnh phúc hồn nhiên, là khổ đau chân chất, là cười khóc vỡ òa bờ bãi thác ghềnh, là tu thân tích đức giữa an nhiên lạc gió lạ mây. Ngày xưa của Lê Nhật Ánh tìm gặp ngày xưa của Bùi Giáng tự bao giờ:

“Xưa kia tôi đã có lần

Và bây giờ đã đôi phần tôi quên”

(CA DAO – trong tập MƯA NGUỒN của BÙI GIÁNG – trang 143)

Nhớ được và quên được như một thi nhân, hẳn nhân loại đã tràn trề an lạc và trái đất đã trọn vẹn Niết Bàn mà con người chẳng phải kiếm tìm chi xa xôi:

“Chín phương

Dầm dãi hết mười

Sáu ba phố tỉnh

Em cười nghe đau…”

(CẦN THƠ)

Trước nỗi đau con người, ngôn từ trở nên bất lực. Nét vẽ dễ dãi của người họa sĩ dễ khiến tâm hồn nhạy cảm trước mặt mình hiện hình trần tục. Khi ấy, chỉ có gam màu của tình yêu mới mong thể hiện được sự trần trụi viên mãn của khổ hạnh đoạn trường:

“Khi chiến tranh qua

Đói nghèo ở lại

Tôi về cuốc bể đồi hoang”

(HOA CẢI TÀU BAY)

Bể – nghĩa là vỡ. Bể – cũng có nghĩa là biển. Chỉ bằng bốn chữ “cuốc bể đồi hoang” thôi, Lê Nhật Ánh đã phác họa một cách đàng hoàng và tử tế bức tranh thời hậu chiến. Của cả đất nước, dân tộc. Của mỗi vùng chiến địa. Của riêng từng con người. Động từ “cuốc” cắm phập vào mảnh đất văn chương, găm thẳng vào thửa ruộng tâm hồn. Ở đó, ai không nghe hương vị thiêng liêng của máu và mồ hôi và nước mắt của lũ lượt con Lạc cháu Hồng nhẫn nại, khiêm cung và cam chịu để gìn giữ non sông cha ông để lại:

“Đèo heo

Cát bỏng gió Lào

Oằn vai mẹ gánh mấy hào nước non!”

(HOÀI HƯƠNG)

Cãi mà không vả. Khóc mà không than. Đau đớn mà không tủi nhục. Phản kháng mà không rên xiết. Cắt cứa mà không oán hờn. Ấy, sự cộng hưởng tột cùng của Biển Đông, dãi Trường Sơn và gió Lào làm nên tính cách Miền Trung chịu thương chịu khó mà vẫn lạc quan tếu táo với đời với người và với mình. Ơi mấy hào nước non! Ơi Mẹ Việt Nam ơi!

Lê Nhật Ánh đẩy biên độ tang thương của chiến tranh đến mức tột cùng – không để đi đến những chân lý xa vợi vời của các triết gia hiếu chiến – mà, để từ đó đi đến sự bao dung hằng mơ cho thân phận hình chữ S của quê hương mình:

“Làm vua và làm giặc

Được thua có sá gì

Sống trên nền hương hỏa

Không còn thấy quê hương.”

(KHÔNG THẤY QUÊ HƯƠNG)

Sống ở đời, tự mình “làm vua” rồi tự mình “làm giặc” với chính bản thân mình, trên ngai vàng quyền uy kiêu hãnh là trí tuệ và cảm xúc, trong vương quốc mênh mang nắng gió không biên giới là tâm hồn và trái tim – Lê Nhật Ánh có cái dũng của Kinh Kha qua sóng chữ:

“Trùng khơi đời đang bão biển

Dậy mùa binh biến trong tôi”

(NGÂU)

“Binh biến” của thi sĩ thật dễ thương và hồn nhiên quá độ! Trao vương miện và gươm báu cho Tình yêu, tự nguyện làm thần dân cho vị chúa với lời thề phụng hiến, rồi người theo lẽ người như ngàn đời quẩn quanh trong một chữ “buồn” huyễn hoặc:

“Lạ hơn đao kiếm vô tình

Người vui một chút

Buồn rình trăm năm”

(BÙA MÊ)

Buồn mà biết “rình” thì ghê thật!

Có nhà phê bình bảo, Lê Nhật Ánh nên chia “NGÀY CỦA ANH” thành 2 tập: Thơ thế sự và Thơ tình. Tôi đã cố gắng đọc theo hướng này nhưng đọc đến nằm lòng vẫn chẳng thể chia cắt tâm ý của người thơ thành mảnh này lát nọ được. Đời là gì, nếu đời không phải buồn vui sướng khổ mà mỗi con người tạo ra và ban phát, trao tặng hoặc gieo trồng lên mảnh đất tha nhân? Buồn là gì vui là gì sướng là gì khổ là gì nếu tất cả những cảm xúc ấy sản sinh từ chiếc computer lập trình sẵn theo hệ nhị phân chứ không phải từ cuộc sống mà từng khoảnh khắc đi qua là hằng hà sa số ước mơ và thành bại, khát khao và yêu thương được sáng tạo lại trên mỗi phận người? Người là gì, nếu người không có tình? Ngày là gì nếu người không đem trọn vẹn cuộc đời mình phơi bày và chăm chút bằng tâm ý dưới ánh mặt trời dưới ánh mắt người trên mặt phẳng thời gian vô định?

Thơ chưa từng đặt để sứ mệnh của mình là Thơ thế sự hay Thơ tình hay bất cứ tên gọi hào nhoáng nào. Thơ là Thơ và Thơ không cần thêm một phiên dịch nào ngoài sự sáng tạo tiếp tục và mãi mãi bắt nguồn từ tác giả qua triền miên bãi bờ độc giả.

Có thể nhà thơ Vũ Quần Phương, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng và những nhà văn nổi tiếng trong cuộc rượu đầu xuân rồi sẽ quên bẵng gương mặt tôi, lạc mất giọng điệu tôi – nhưng chắc chắn một điều, họ sẽ thi thoảng nhơ nhớ khắc khoải cái vương quốc của “mỗi nhà văn là một ông trời” tuyệt nhiên điêu linh thống khoái trong một câu thơ mà tôi đã kịp đọc hôm ấy:

“Củ khoai sùng chạy vào giấc ngủ

Mộng làm vua! Mấy thuở không nhà

(QUY NHƠN)

Núi Dinh, 10/03/2013

TRỊNH SƠN.

*Tất cả thơ trích dẫn là của Lê Nhật Ánh trong tập “NGÀY CỦA ANH” (NXB Hội Nhà Văn 01/2013)
 
NGUỒN: Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo blog