Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

NGUYỄN MIÊN THẢO quy y tình yêu

                                                                                             VÕ CHÂN CỬU
 
 
 

Nguyễn Miên Thảo tên thật là Nguyễn Văn Tụng, sinh năm 1946. Anh nổi tiếng làm thơ và có sách tự in khá sớm, từ khi còn học trường Quốc Học - Huế. Anh lưu lạc khá sớm, vào Sài Gòn sống từ năm 1966. Liền sau đó, Tạp chí Văn đã đăng thơ anh, ngầm công nhận “cây bút trẻ nhiều triển vọng”:

 

Chàng và Nàng

 

Chàng đứng dang hai tay dài

nối hai chân trời tím

hai chân trời của chàng và nàng

 

nàng ngỡ chàng là cây thánh giá

bỗng quỳ xuống xin lời cứu rỗi

yêu anh yêu anh

chàng lập lại không một chút đắn đo

 yêu em yêu em

 

và hai người chìm vào một cơn bão mật

 

Bài thơ này của Nguyễn Miên Thảo nay cũng được in lại trong tập sách mới. Có thể coi đây cũng là tập thơ “đầu tay” của anh. Bởi lẽ, tập thơ đầu tiên trước đó ở Huế (Hãy Thức Dậy Cùng Ta Thầm Lặng Đêm Nay -1966) được tác giả tự in bằng quay ronéo, phát hành chuyền tay. Mãi đến năm 2007, anh mới đứng tên cùng Từ Hoài Tấn, Lê Ngọc Thuận, Viêm Tịnh để in chung tập thơ Những Dòng Sông Đêm (NXB Thuận Hóa). Tập thơ Thơ Tình với 107 bài thơ này nên xem như một Tuyển tập của Nguyễn Miên Thảo (không gọi là “Tổng tập”, vì anh đang còn hăng say làm thơ, mặc dù sức khỏe không tốt lắm sau mấy năm chịu cuộc mổ tim!).

Từ giữa năm 2013, Tủ sách Văn Tuyển (liên kết với NXB Hội Nhà Văn) đã rao sẽ ấn hành tập thơ Nguyễn Miên Thảo mang tựa đề Quy Y Em. Nhưng ngày phát hành đầu tiên (vào 30/9/2013 - nhân buổi tưởng nhớ 10 năm ngày mất thi sĩ Kim Tuấn), tập sách in mang tựa đề mới. Cầm tập “Thơ Tình” với chữ ký tặng trên tay, tôi hỏi người chủ trường Tủ sách Văn Tuyển: “Sao phải đổi tên?”, Nhà thơ Nguyễn Liên Châu chỉ cười và không trả lời!

Tôi vẫn thích tựa đề ban đầu. Thôi xem đây là “Quy y tình yêu” vậy. Trong đạo Phật, ai muốn thành Phật tử, phải được chấp thuận qua lễ “quy y”. Nguyễn Miên Thảo xem “Em” - như là biểu tượng của tình yêu, thật vậy chăng?

 

Quy Y Em

 

Em cười

xóa cả vô minh

Anh trong kinh kệ

giật mình bước ra

Mõ chuông

gửi lại trăng tà

Anh xin phiêu hốt

bên tà áo em

                (2007)

 

Ở bài thơ trang bên cạnh, anh đã “giải thích”, lý do “quy y” của mình:

 

Phật Nói Yêu là Pháp Tu hành

 

Trong mơ Phật nói rõ ràng

Anh yêu em đã nghìn năm trước rồi

Phật rằng, chỉ có anh thôi

Dám đem Phật Thánh tỏ lời tình  nhân

Yêu mà sâu nặng như anh

Thì thôi chẳng phải tu hành làm chi

Phật buồn thoát khỏi bến mê

Anh vui vì được đi về có em

 

Nguyễn Miên Thảo dám đem cả Phật ra giỡn, xem tình yêu như chuyện tu hành. “Anh vui vì được đi về có em”. Lời tỏ tình chân thật như người đã đắc đạo! Nhưng không phải chỉ lấy Phật ra ví von, Nguyễn Miên Thảo cũng xem “Em” như là Đức Chúa Giê-su nữa:

Và từ đó anh thành con chiên ngoan đạo

Chúa là em, em là Chúa khác gì

Đêm thánh vô cùng hóa thành giông bão

Chiếc hang đời giam lỏng cuộc tình si

                             (Giáng Sinh Của Riêng Anh - trang 51)

 

Nguyễn Miên Thảo xem tình yêu như là tôn giáo, người yêu là vật thể mình thờ phượng. Điều đó trong thơ không mới. Nhiều thi sĩ còn điên cuồng, si dại hơn trong diễn tả tình yêu. Cái khác của Nguyễn Miên Thảo là người ta thấy anh nói về tình yêu như một cách “giỡn” cho đỡ buồn. Nhưng cái giỡn (có khi là nỗi đau) bằng giọng thơ tự nhiên (như nói) đôi lúc lại tạo nên sự bất ngờ, thành một bài thơ hay:

 

Ai Dè

 

Thấy em xõa tóc

ngả nghiêng bên trời

Anh cầm

Một sợi lên chơi

Ai dè

suốt cả một đời

lao đao

 

Nhà phê bình Cao Huy Khanh, trong lời tựa tập thơ, đã viết: “Chính cái phong cách “cà rỡn” nửa đùa nửa thật giỡn chơi với cuộc đời, giỡn chơi với tình yêu, thậm chí giỡn chơi với cả tử thẩn nữa làm nên cái chất Nguyễn Miên Thảo. Làm nên những bài thơ có vần tự nhiên nhi nhiên kiểu “xuất khẩu thành thơ”phóng khoáng, rất có duyên hơn là thể loại thơ tự do thời gian đầu trong phong trào thanh niên sinh viên đô thị chống Mỹ về chủ đề chiến tranh nặng suy tư thường dài và loãng. Ngược lại, đặc biệt là những bài thơ ngắn vài câu đầy cảm tính đáng kể là xuất thần…”

 

Nguyễn Miên Thảo là ai? Đời nhà thơ có gì đáng nói? Hãy nghe chính tác giả :

 

Tự Bạch

 

Năm anh ba mươi tuổi

Ngỡ mình đi đúng đường

Giờ sắp tuổi lai hy

Mới biết mình lạc lối

 

Mười hai năm làm quan

Lòng luôn sao bức bối

Mười tám năm làm dân

Mới biết mình có tội

 

Mười tám năm làm thinh

Mười tám năm không nói

Em tặng một ngày xuân

Cuộc đời anh phơi phới

 

Chỉ cần nụ cười em

Cuộc đời anh đã khác

Chỉ cần được yêu em

Anh không còn đi lạc.

 

Tôi là một trong những người bạn khá thân của anh trong những ngày ở Sài Gòn. Hồi mới bỏ Huế vào, anh luôn mơ một hình thức sáng tạo mới, nên đã từng viết những câu như “Cái của em cũng hồng như của mẹ / Thuở sinh ra ta đã thấy một lần…” Bài thơ này hình như sau đó (khoảng 1967) chỉ in được trên tờ Mặt Đất, Tạp chí bất định kỳ do Nguyễn Đức Sơn chủ trương. Anh trở thành một trong những người gần gũi nhất với nhà thơ có cuộc sống lập dị này. Nguyễn Miên Thảo có mặt trong “họ nhà trai” (cùng Đại đức Thanh Tuệ của NXB An Tiêm, G.S Bửu Ý từ Huế vào) đi cưới vợ cho thi sĩ Nguyễn Đức Sơn ở Thủ Dầu Một. Thời cuộc đổi thay, Nguyễn Miên Thảo trở thành ký giả cho một số tờ nhật báo hàng đầu ở Sài Gòn. Và anh bí mật tham gia hàng ngũ kháng chiến. Đến khi sắp bị “lộ”, tôi và Nguyễn Lương Vỵ là người tiễn anh xuống Bến Tre để ra chiến khu. Ngày 1/5/1975, anh trong bộ bà ba đen về tìm chúng tôi trước tiên. Khi được hỏi “trong đó” có làm thơ không, anh lắc đầu. Mười hai năm sau, Nguyễn Miên Thảo bỏ tất cả, về lại Sài Gòn làm dân, nhiều năm kiếm sống bằng với một sạp báo ngoài vỉa hè. Dòng thơ anh tuôn trào trở lại. Cuộc đời như một sự giỡn chơi, nhưng bây giờ anh dùng đạo tình yêu để giỡn. Giỡn mà thật, nên có nhiều người tin, vì Thảo tin “Tình yêu rất đỗi nhiệm mầu” - trang 111.

 

Vậy, giữa hằng hà sa số các tập thơ được in ra hôm nay, đây là tập thơ đáng đọc.

 

                                                           VÕ CHÂN CỬU

                                           (Đọc “Thơ Tình” Nguyễn Miên Thảo,

                                  Tủ sách Văn Tuyển, NXB Hội Nhà Văn – 2013)