Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

NGUYỄN TAM PHÙ SA - NGƯỜI BƯỚC RA TỪ CÂU THƠ CŨ

                                                                       NGUYỄN MẬU HÙNG KIỆT




Nguyễn Tam Phù Sa – người bước ra từ câu thơ cũ

 

Cầm trên tay thi phẩm Tranh lắp ghép bằng chữ (*) của anh Nguyễn Tam Phù Sa, tôi thấy hơi lạ cho cái anh chàng Quảng Nam li hương làm báo, làm thơ, viết văn. Có phải đây là sự kết hợp tay ba để làm nên những bức tranh chữ với nhiều mảng màu sáng tối?

Vâng! Nguyễn Tam Phù Sa “Anh không còn là anh của ngày xửa ngày xưa/ Yêu mảnh đất nước Thu Bồn chưa đục/ Yêu cành tre bầy sẻ ngô không dám đậu/ Chết vẫn còn ngoái lại nói yêu em” (Có em anh mới biết làm thơ tình). Anh “Bước ra từ câu thơ cũ” (chữ dùng của anh) để đối mặt với thực tại, nói tiếng nói hôi hổi nóng của thời đại, khóc cười cùng với nhân sinh.

 Đứng trước những bức tranh chữ ta như thấy anh chàng nhà báo xứ Quảng đang lang thang ở đất Sài Thành tác nghiệp. “Vác đất đội trời đi tứ xứ/ Khói xe, khí thải trát đen sì/ Lọc cọc tiền xu gieo giữa chợ / Trắng đen loạng quạng vấp lời quê” (Sinh nhật lục tuần). Anh góp nhặt, lưu giữ, cập nhật thông tin, chọn lựa chi tiết, sự kiện để có được những lát cắt của hiện thực cuộc sống; mượn hình tượng ngôn từ để tạo hình, dựng cảnh cùng với nghệ thuật sắp đặt làm nên những bức tranh chữ có vấn đề.

Không tuyên ngôn, không đề dẫn, không lời giới thiệu, tập thơ mở ra là mở ra không gian của phòng tranh. Ấn tượng đầu tiên là hình ảnh biểu trưng, tre Quảng đầu đội trời và chân đạp đất đang “so vai gánh cả trời và đất”. Hình ảnh thể hiện rõ một quan điểm sống thẳng ngay, một tính cách bộc trực của người Quảng Nam. Rất bản lĩnh! Dẫu có hơi cao ngạo nhưng đó là “cốt cách tre làng/ Gió cách nào vẫn thẳng” (Thư gửi em tôi).

Anh dẫn dắt người đọc đến với phòng tranh bằng những câu chuyện thế sự như: chuyện di dời, giải tỏa Lò thiêu Bình Hưng Hòa để xây dựng “tòa tháp công nghệ siêu lợi nhuận, khu thương mại đa tiện ích kiểu Mĩ” để “phục vụ  rửa, giỡn tiền”; chuyện của người nông dân miền Trung giữa mùa “rau dưa thất bát, hạt lúa mất mùa”,  lại gặp thời “bão giá”; của người dân nghèo thành thị “thấp cổ bé họng” phải bươn chãi kiếm sống bằng việc bán vé số, buôn thúng bán mẹt, đánh giày… giữa những ngày nắng nóng 41 độ C…

            Như những phóng sự ảnh, câu chuyện thơ của anh thường gợi mở cho người đọc nhiều vấn đề để suy ngẫm. Anh không ngần ngại phơi bày ra ánh sáng những gam màu tối của cuộc sống thường nhật với nhiều điều “bát nháo”, của nhân tình thế thái với bao thói tật xấu, thậm chí phi nhân tính.

Tiếng nói phản biện xã hội đã được anh thể hiện khá rõ nét trên những con chữ sắc lạnh. Anh thật sự bất bình trước những điều xấu, những điều phản cảm được cập nhật hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ví như chuyện “người mẹ mót cà phê/ bị lũ chó xé xác / trước mặt hai người con”; chuyện “em vợ bị cưỡng chế nhà”, chuyện báo mạng đưa tin “thuốc thịt người Trung Quốc””, “lái buôn Trung Quốc/ quỵt nợ nông dân miền Tây”, “ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc cướp tàu”…

 

Đọc những bài thơ Ghi vội ở lò thiêu Bình Hưng Hòa, Tạ lỗi đấng quyền năng, Một ngày như mọi ngày, Xin thắp lửa lòng dâng mẹ Việt Nam, Kí tự số 7, Tết thành phố nơi tôi đang ở, Người phu quét đường bồ tát quét rác…, ta thấy anh thật sự đau đớn, xót xa trước sự thờ ơ, vô cảm và thói đạo đức giả của những con người có trái tim băng giá. Dường như trái tim anh bị bóp nghẹt khi được nghe, được thấy những điều chướng tai, gai mắt. Một nỗi uất nghẹn, làm “Trầm uất hoa quỳnh không nở về đêm”,  khởi phát cho “Câu thơ rơi ngược bật mầm” và có thể đó cũng là lí do khiến “Anh không muốn chết vào ngày tận thế/ Gói bất bình chôn xuống đáy mồ sâu”. Chính sự giằng xé, quẫy đạp của ngôn từ đã làm cho tiếng thơ anh mang tâm sự của con người không thể vượt thoát nổi mình đành “Nhắm mắt nghễnh tai sống vờ như điếc”.

Mang thân phận của “những  phận người vừa trôi vừa trổ bông”, anh hay mủi lòng trước những biến cố của quê nhà. Anh dành tình cảm cho khúc ruột miền Trung, lắng nghe từng nhịp đập, từng hơi thở của sự sống nơi mảnh đất đầu sóng, ngọn gió. Anh cháy hết lòng mình với quê nhà: “Còn chút rạ rơm cuối vụ/ Cũng xin cháy hết cùng quê/ Chữ nghĩa có làm xốn mắt/ Mẹ ơi xin hiểu giùm con!” (Mẹ bảo con đừng có khóc).

Anh đồng cảm, sẻ chia trước những bất hạnh của người dân miền Trung những ngày bão lũ “Lại nghe bão rớt, xé lòng/ Tình quê đứng giữa hai dòng lũ trôi.” (Chia bão số 9 với mẹ Quảng Nam), “Bão Chanchu/ Tiếp bão Xangsane!/ Hai tháng hai lần tang/ hai lần khóc mẹ” (Chia bão cùng mẹ miền Trung). Dường như, người mẹ Quảng Nam đã thành hình tượng nghệ thuật để anh kí thác nỗi niềm quê kiểng, để trao gửi yêu thương về với quê nhà.

Như bao người Quảng mở đường tìm tới đất phương Nam “về phía chân trời mở rộng” để tìm kế mưu sinh, anh mang tâm trạng của con người bỏ quê làm cuộc đào thoát: “Cả nhà ra đi ôm cả đất vào lòng/ Cuộc đào thoát không hẹn ngày trở lại/ Chưa từng bỏ quê nhưng khóc một lần li biệt/ Sông Thu Bồn đang chảy giữa mâm cơm” (Gói tình phía sau thiệp cưới). Cứ “ngẩng đầu ngoái lại” cùng với một nỗi day dứt không nguôi, anh không cho phép mình được ngoảnh mặt, quay lưng với quê cha, đất tổ, với mẹ Quảng Nam: “Xin níu lấy lề quê, hồn cố thổ/ Người trăm năm cần giữ chút trăm năm” (Mẹ quê ơi!).

Có thể nói, đọc Tranh lắp ghép bằng chữ, ta thấy Nguyễn Tam Phù Sa đã có sự bứt phá, vượt thoát mà thơ anh mới hơn, đời hơn, có nhiều hơn những va đập của cuộc sống thường nhật, phong phú hơn những sắc màu của bức tranh hiện thực. Hy vọng tập thơ sẽ mang lại cho bạn đọc nhiều xúc cảm mới mẻ, những suy ngẫm nghiêm túc về cái đẹp, về những giá trị sống được anh gợi mở và lay thức.

 

Quảng Nam, tháng 5 năm 2013

 

 

--------------------------------------

(*) Tranh lắp ghép bằng chữ - Nguyễn Tam Phù Sa – NXB Lao động - 2013

 

NGUYỄN MẬU HÙNG KIỆT
Lên sóng lúc 07:06 ngày 04.6.2013