Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

NHỮNG GÓC NHÌN THI CA NGUYỄN GIÚP

                                                                                                  HUỲNH MINH TÂM
 
 
                                     * Mời đọc thêm NGUYỄN GIÚP: Cuối làng ngồi giữ lửa quê
 
 
 
Có thể bạn đọc xa lạ hoặc một vài bạn thân đánh giá sai khác, hoặc bảo tôi hay viết kiểu “ lăng xê”, tâng bốc gì gì đó. Nhưng tự bản thân chưa bao giờ hổ thẹn với lòng mình, rằng tôi đã không viết sai trệch đi những gì tôi mến yêu, suy xét; tôi vẫn tiếp cận với các tác phẩm theo những chính kiến riêng tư, và với một tinh thần học hỏi, lắng nghe sự chuyển động của thi ca. Và, tôi phải viết điều này, tưởng chừng chẳng hay ho gì rào trước đón sau, bởi những gì tôi sắp viết ra đây, tôi muốn trình bày này nọ cũng nằm trong tiến trình tư duy, động não, bất bình thường khi tôi đọc thơ Nguyễn Giúp. Cũng có một vài điều dễ dàng hoặc khó khăn, dễ yêu hoặc dễ ghét bởi nguyễn Giúp là nhà thơ rất gần gũi với tôi, là anh cả trong các cuộc “trà dư tửu
hậu”. Trong một thời gian lâu dài khấp khởi, tôi biết anh cặm cụi, cần mẫn “ làm thơ”, nghiền ngẫm ngấu nghiến ngôn từ, nhưng thơ anh dường như còn xa lạ, đúng ra là “ lác đác” trong “ tầm ngắm, tầm đọc” của tôi. Và rồi bất ngờ, bất lai, bất nhị, tôi nhận ra, “ ngộ nhĩ” Nguyễn Giúp lớn mạnh vô cùng, sâu sắc vô cùng, cô đơn vô cùng. Thơ Nguyễn Giúp đã mở mang, dọn dẹp cõi lòng rối rắm, ngổn ngang của tôi, cho tôi nhìn thấy một chân trời rạng rỡ, tinh khiết, khải hoàn khác của thi ca bấy lâu tôi chưa hề nhận biết. Tôi đọc thơ Nguyễn Giúp, tôi choáng ngợp, tôi sung sướng; máu huyết tôi dường như chảy rần rần bởi nó cũng bị ám ảnh, ámchướng giữa dòng chảy thi ca của Nguyễn Giúp, bởi cái hổn hển, mơ hồ của ngữ điệu lời nói, của các kí hiệu, hình tượng, hình ảnh các bài thơ của anh khơi mở (“ Tình yêu mở ra đất đai cày lật/ ta từng ấy tha phương đành lỗi quê nhà/ Chiêm Sơn chiều quay khung tơ/ xuân thì trổ ngực em có về/ Ra đồng mần…quản chi áo rách/ Quay xuống mà cạn sông/ Chắp hai tay lên ngực lạy với lòng Quảng Nam/U u trăm năm ngàn năm cỏ dựng/ Anh hùng cọ núi xương khô” –trong bài Tôi và sông, “Những phù sa vùi lấp đời mình mà thành bãi bờ điền địa/ Hạ lưu con sông lang bạt dễ đâu quy hàng/ Gò Nổi có phải mồ chôn con sông tự chết/Linh hồn con sông thoát xác đi về triền dâu/ Linh Hồn con sông lẫn vào cỏ lau/ Linh hồn con sông hóa thân con người dung dị/ Linh hồn mọc ra những buổi chiều mọc ra những ban mai- trong bài Gò Nổi). Bởi những con chữ thơ Nguyễn Giúp rất gần gũi, mộc mạc, “ chân quê” ( “Một lát cuốc chôn nhau thai vào đất/ ký thác ngày mẹ tôi đẻ ra tôi/ Đứt ruột vườn nhà phân heo phân bò/…- Đất và tôi”, “ Góc vườn méo lệch giấc mơ/ mẹ tôi ngồi bắt chấy/ Đứa con thơ  mụ mị mắt người/ Cời dịch dần về đỉnh chớp/ ngày nắng đâu ngày mưa đâu- Cời” );  Bởi những câu thơ dường như không phải thơ, rất bình thường, đơn sơ, dung dị ( “Trái ớt cay đỏ mặt tía tai mà khoái chí/ Con phải bơi qua sông con mới được làm người…/Hắn đã già hắn phải chết/ huyệt mộ mai sau hắn có về nằm cạnh/ dự cảm nơi chôn nhau…); nhưng Nguyễn Giúp đã kết nối những câu thơ nhàn nhạt, ra rìa ấy thành một chuỗi  câu thơ độc đáo, đọc rất ấn trượng, giấc mơ một đời sống phập phù, bất trắc, sặc mùi tửu dân, lão dân, lang bạt dân và trên hết là thi ca dân.
 
Cũng là một người bạn, và là bạn đọc tâm huyết, nhà giáo, “ nhân văn học” Lê Đức Thịnh khi đọc thơ Nguyễn Giúp, đã tư sung sướng mê ly, mà phán “ Đọc thơ Nguyễn Giúp còn đã hơn uống rượu”, và anh đã khai thác một số khía cạnh thơ Nguyễn Giúp. Anh viết thế này :
 
“23/12/2011.
 
ĐỌC THƠ NGUYỄN GIÚP
                                                           Lê Đức Thịnh

***
Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã khái quát ba cái thú của người viết:
- Viết để ai đọc cũng hiểu và cũng thích: cái thú phục vụ.
- Viết để chỉ có một ít người đọc hiểu và thích: cái thú chinh phục.
- Viết mà cả những người đọc nghiêm túc và được trang bị đầy đủ nhất cũng không hiểu và không thích là một cái thú khác nữa: cái thú thách thức.
Ngẫm lại ở Nguyễn Giúp có cả ba điều ấy dù anh có cố tình tạo ra nó hay không. Đọc và biết anh từ hồi anh làm và đọc “thơ tình”, “thơ rượu”, “thơ ngông”. Từ những câu thơ của Hoàng Lộc, thích ngâm nga “Hồ trường” qua bản dịch của Nguyễn Bá Trác… Nguyễn Giúp cứ đều đặn, lừng lững, thận trọng  bước những bước dài đến với thơ ca. Nếu nói không quá thì anh đã định hình cho mình một phong cách. Có người đã nói không quá rằng thơ đất Quảng đương đại chỉ còn lại : NG, HMT … Điều ấy nói lên rằng giữa cái dòng chảy thơ ca đương đại đất Quảng, NG cũng như một số ít tác giả khác đã để lại những dấu ấn trong bạn đọc và bạn thơ.
Tiếc rằng đó chỉ là một vài cảm nhận rời rạc, đúng nhưng thiếu thuyết phục. Chưa có công trình nào nghiên cứu, tổng hợp về tác giả đất Quảng đương đại để nhận diện mình, để “quảng bá” văn nghệ Quảng Nam ra các vùng miền khác. Vì vậy khi có người đặt ngược vấn đề : mới chỗ nào, dấu ấn chỗ nào, khám phá ra sao … thì tất thảy chúng ta đều lúng túng.
Tôi nói điều ấy bằng cái nhìn của người đọc quan tâm đến tác giả ở cấp độ thi pháp. Và thật quá sớm để khái quát các vấn đề thi pháp thời gian, không gian, ngôn ngữ … trong thơ Nguyễn Giúp. Tuy nhiên qua thi pháp không gian, người đọc có thể hình dung phần nào diện mạo về thơ anh.
 
***
Không gian trong thơ Nguyễn Gíup trước tiên là cái không gian của làng quê, nơi anh đã từng sống, gắn bó và đi đây đi đó. Khi nói đến không gian làng quê, các tác giả thường thể hiện qua những hình ảnh  gần gũi như con sông, làng quê, tiếng chim, vườn cây, ánh trăng…


“Qua sông là tới làng
Ừ thì qua sông
Cổng làng ưỡn ngực khoe những tam cấp
Rồi sẽ tiếng chim chuyền cành
Vườn nhà thanh bình đến ngờ vực” (Đại Bường)


Tiếng chuông thả vào đêm
Gió lay cành mục
Trăng khuya một áng
Khắc khoải bốn bề sương giăng (Tiếng chuông)


Nguyễn Giúp cũng thể hiện các hình ảnh làng quê quen thuộc đó, tuy nhiên làng quê trong anh thường gắn với địa danh cụ thể: Đại Bường, Gò Nổi … đôi khi anh không nói về một vùng miền cụ thể, đôi khi anh mở không gian thơ của mình ra đến phố xá nhộn nhịp “thênh thang mùa thi”
hoặc “Khơi ngàn năm, Bờ ngàn năm” nhưng  người đọc vẫn nhận ra cái hồn đất, hồn quê xứ Quảng với những hình ảnh thật thanh bình, dung dị.
“Những thân lúa, thân bắp xanh từ đất đai
Những hạt sương tinh khiết từng giọt mà thành ban mai
Những phù sa vùi lấp đời mình mà thành bãi bờ điền địa …” (Gò Nổi)
Không gian làng quê trong thơ Nguyễn Giúp không chỉ có tạo vật mà luôn có sự hóa thân của hồn người, tình người. Khi thì miền đất mà anh nói đến có hình bóng của danh nhân lịch sử : “Những Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Phan Khôi …” khi thì con người hóa thân vào quê hương, là một phần của hồn quê : “Linh hồn con sông hóa thân con người dung dị / Linh hồn mọc ra những buổi chiều, mọc ra những ban mai …”
 
Điều thú vị là trong cái không gian thi ca đó luôn có những âm thanh vang vọng để con người nhận ra nỗi niềm của mình. Có khi đó là tiếng mỏ, tiếng chuông đêm lay động lòng người trần tục :
“Tiếng mỏ giục câu kinh lơi chuông điểm
Trôi đâu một giấc mộng tàn ?
Men rượu cháy lòng câu thơ bung ngày mới
Lẽ nào vô tích lẽ nào vườn khuya
Lẽ nào em tay phủi
Ta từ cuộc phong trần ngồi mặc niệm tiếng chuông ?” (Tiếng chuông)
Hoặc chỉ là tiếng thằn lằn nằm phơi mái ngói gợi buồn vui lòng người:
“tháng ba người không về
con thằn lằn nằm phơi mái ngói
buồn vui tắc lưỡi chờ
câu hát mài mòn đêm cũ
ru người tìm nỗi đau ta
áo xưa lãng quên cành súng”
Hoặc trần trụi đời thường mà vẫn gợi bao nỗi niềm :
Buổi chiều nghe tiếng con heo kêu / Ban mai nghe tiếng con gà gáy /
Giục lòng cái ăn cái mặc / Trái bắp củ khoai thẳng mặt một lời ... (Gò Nổi)
Không gian thi ca trong Nguyễn Giúp có cái man mác của tình yêu thăng hoa :
“quay lại với tháng mười bài thơ cho em / góc phố đã lên sàn mùa đông trứng nước / thai nghén những sợi tơ trời hình lông ngỗng bay vào giấc mơ truyền thuyết / vó ngựa khua cung bậc tình yêu lên chín tầng hiện hữu em đã về chưa / bài tháng mười cho em là nụ hôn đầu đời cùng kiệt vượt ngưỡng đau cơ bắp / anh cược linh hồn mình vào đây cho vòng tròn con
chữ chạy quanh.” (Bài tháng mười cho em)
Có cái ưu tư trong men rượu về một giấc mộng tàn mà vẫn bung ngày mới :
“Trôi đâu một giấc mộng tàn ?
Men rượu cháy lòng câu thơ bung ngày mới
Lẽ nào vô tích lẽ nào vườn khuya
Lẽ nào em tay phủi
Ta từ cuộc phong trần ngồi mặc niệm tiếng chuông ? ” (Tiếng chuông)


Vẫn còn nhiều điều thú vị chưa khám phá hết về thơ Nguyễn Giúp và có lẽ chính điều này khiến cho người đọc có cảm giác vừa thú vị vừa bị thách thức khi đọc thơ anh”

(Hết trích bài của LÊ ĐỨC THỊNH)
 
 
Tôi hỏi Thịnh : “ Sao viết ngắn thế?”. Thịnh bảo : “ Bài chưa xong, cần suy nghĩ, đầu tư thêm !”. Đọc bài của Lê Đức Thịnh, từ góc nhìn không gian thi ca, không gian sống, từ những giấc mơ trong thơ Nguyễn Giúp, tôi nhận ra thêm, trong thơ anh có “ trầm tích văn hóa”, đậm đặc chất dân gian, những tập tục nghi lễ Xứ Quảng, và chúng đã ăn sâu thấm máu vào đời sống, suy tư của Nguyễn Giúp . Sự phát lộ, “ phát tiết” của anh trên hành trình chuyển động, dấn thân thi ca mới mẻ quá, cao vời quá làm tôi không dám nói chắc điều gì về anh.
 
Nhà thơ Nguyễn Đông Nhật dường như cũng rất ngạc nhiên, thảng thốt và có một chút ít “
nghi ngại” về anh chăng, đã giới thiệu anh trên trang Văn nghệ cuối tuần báo Đà Nẵng như sau : “ Không rõ bắt đầu viết từ khi nào,nhưng gần đây, người yêu thơ bắt đầu chú ý đến một giọng thơ mới. Mới và cũ. Nghĩa là tác giả đã “ định” được cho mình hướng đi đúng. Một vùng quê nào đó, trong thơ anh, không chỉ là những thực cảnh, mà qua đó,có thể thấy thấp thoáng những nghĩa lý của cuộc nhân sinh. Trong cuộc chơi với chữ, mong anh sẽ dần đi đến chỗ giản dị hơn. Mà vẫn không ngừng mới mẻ”. Tuy mới mẻ, bàng hoàng như vậy, tôi vẫn khẳng định thơ anh là một dấu tích “ trầm tích văn hóa” của vùng đất cha sinh mẹ đẻ. Nó mộc mạc mà sáng lóa, giản dị mà gân guốc, lặng lẽ mà ngân vang : “ Tiếng kêu toang toác trên cành cụt/ Hẳn không là điềm báo/ Sau lũ trời quang tạnh/Những xác chết ngập bùn bốc mùi/Lũ chuồn chuồn khấy cảnh tầng không bình sinh ngày mới/ chuột cái nín đẻ bây chừ tìm hang lót ổ/ Xác giun bẹp dí/Con chim lạc bầy lạc bạn ngày kết đôi chắc phía chân trời/ vụt bay/Đầu non trăng mọc vẫn không là điềm báo” ( Vẫn không là điềm báo).
 
 
Có một lần Lê Đức Thịnh nhận xét : “ Đọc thơ Nguyễn Giúp bây chừ đã hơn đọc thơ HMT, bởi thơ HMT giờ “ khô”, cấu chữ “ tròn trịa” quá”.
Tôi chẳng lấy làm buồn mà nhận ra, chất đau đáu, đau đớn, đau khổ của cuộc đời đã “tiêm’ tâm hồn tôi cái “ chất độc cỗi cằn, chết chóc”. Thơ Nguyễn Giúp sinh động ở chỗ quẫy đạp, ở chỗ “ bản lai”, ở chỗ Nguyễn Giúp đã đánh cược cả đời sống lang bạt với thơ, đã cho thơ máu huyết
máu lệ của đời mình; anh không làm dáng, vặn vẹo câu thơ theo tiết điệu của cái “bác học” ốm o, nhỏng nhẻo, phỉnh nịnh.  Và Nguyễn Giúp đã thành công. Thơ Nguyễn Giúp trở thành một tiếng gọi tinh khiết, hoang dã phía giấc mơ. Trước khi kết thúc bài viết còn nhiều băn khoăn
này, tôi hy vọng bạn đọc nghĩ tôi lắm điều, nhưng thơ Nguyễn Giúp đến với bạn như một tất yếu của tình cảm thi ca, như mùa xuân của năm mới. Và hãy cho tôi gìn giữ một ý thơ hết sức riêng tư, nhưng cũng rất nhiều duyên nợ với  nhà thơ Nguyễn Giúp như vầy :
 
 
NGUYỄN GIÚP, THƠ VÀ QUÊ HƯƠNG VÀ TÔI
              
                Kính tặng nhà thơ Nguyễn Giúp, nhân đọc hai bài thơ Tôi & Sông, Đất & Tôi
                          của nhà thơ đăng trên văn chương Việt, ngày 26/6/2011.

Nguyễn Giúp viết thơ máu lửa chảy đầy trời
về quê hương “khuôn mặt người quen chảy dài mùa màng”
đẹp như những cô gái màu mỡ phù sa gánh nước tưới rau
khát vọng ngọn núi lửa bao nhiêu năm
chợt nổ tung
hoa lửa mênh mông vòm trời đầy sao
Nguyễn giúp gợi lòng tôi một ánh nhìn viễn tượng trù phú
“lục tung nỗi nhớ nhà lại gặp sắn khoai lận đận”
“bờ kia đồng dế non ngậm gió”
“bờ kêu một thớ trăng vuông”
+
tôi đã cắm ngọn sào ở một bờ trăng lâu quá
tôi đã đẫy giấc với những mùa trăng hây hẩy
và mơ ôm và siết và chi chi rất chi chi… với những cô gái đẹp
mùi da non mùi xương non mùi sườn non mùi đèo non mùi bắp non mùi dưa
non mùi cà non mùi lúa non
mà sao không gặp một giấc mơ
“xuân thì trổ ngực em”
mơ mơ màng màng lãng mạn thi ca
Nguyễn Giúp đã chửi “tôi”
“từng ấy tha phương đành lỗi quê nhà”
+
“Tôi” là chủ ngữ của Nguyễn Giúp đi từ bản ngã đến sông
“có tôi quay về chốn cũ bãi bồi quê cha quê mẹ”
“Tôi” là điểm sáng ban đầu là mũi tên trong cung
“Sông” là vị ngữ là hành trình là mũi tên trên đường bay định mệnh
“Sông” không hề biết trước
“Tôi & Sông” là cuộc ra đi của Nguyễn Giúp
tha phương nợ quê nhà tha phương những cũ kỹ mê ly
“Chiêm Sơn chiều quay khung tơ
anh hùng cọ núi xương khô”
thơ đánh đu trên dây xiếc
thơ phả hơi thăm thẳm kỳ hồ lang bạt
mà quê nhà cố xứ “ bê vàng ngây ngô bú mẹ”
là sơn khê ảo ảnh
+
Nguyễn Giúp thả hồn vào đất
“một lát cuốc chôn nhau thai vào đất
ký thác ngày mẹ tôi đẻ ra tôi”
tôi chợt hiểu ra
đất là mẹ của vũ trụ
đất là mẹ của muôn loài
đất không sinh ra không tự mất đi
đất Quảng Nam mang số phận của Nguyễn Giúp
đất là cuộc sống của Nguyễn Giúp
“mặc cát sỏi níu cây sào cắm phập
tôi vẫy tay thiên di”
+
mật ở đâu trong Nguyễn Giúp mà nguyễn Giúp làm mật quê hương
“tạ lỗi sinh thành cho con đổi giọng
tôi sinh tôi lẫn tránh tôi suốt đời bạt xứ”
ngỡ Nguyễn Giúp là chiếc gương để tôi soi gương mặt mình chòm râu đá bạc
mà Nguyễn Giúp là chiếc gương thật “ thằng giang hồ đầu hói”
“ảo ảnh trong kia cười hô hố”
+
Nguyễn Giúp như một con sóng đổ ập vào tôi
quê hương thân quen mà xa lạ vô cùng
“ vườn nhà phân heo phân bò buổi giêng hai chưa ngậm”
Nguyễn giúp đứng như trời trồng ở đâu đó quán cóc đìu hiu quán gió đìu
hiu quán ngủ đìu hiu
Nguyễn Giúp khóc hay cười ở quê nhà
 mái đình rêu câu hát nương dâu
Nguyễn giúp chửi “tôi” là đồ gặm nhấm
tôi rất đau Nguyễn Giúp đau nghìn lần
“ ngập ngụa nắng cây cầu dang đôi chân hạn hán”

 
Huỳnh Minh Tâm
GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc, Quảng Nam