Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

NHỮNG KHOẢNG LẶNG - Nguyễn Hữu Vĩnh

 

 

NHỮNG KHOẢNG LẶNG

(Đọc Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh, NXB Hội nhà văn, 2012)

 

Đêm Thơ - Ca Nguyễn Ngọc Hạnh - Ký ức dòng sông, giới thiệu Tập thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh và Album 16 ca khúc phổ thơ của anh, do Phòng Văn hóa thông tin Điện Bàn tổ chức vào tối ngày 4/4/2012. Nhân dịp này chúng tôi đăng bài viết Những khoảng lặng của anh Nguyễn Hữu Vĩnh

 
 

 

Thơ ca là hình thức tự do dân chủ nhất của cảm xúc, tư tưởng và chính vì thế, người thơ có cơ hội sống thật với mình. Con người luôn bận rộn với mũ mão cân đai cho những vai diễn, hiếm có phút giây được ngắm mình qua gương mà không hề son phấn. Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh, theo tôi là chuỗi những khoảng lặng hiếm hoi như thế. 

 
 
          Thơ tình  Nguyễn Ngọc Hạnh chủ yếu là tiếng nói của cái tôi hướng nội, thì thầm với chính mình; khách thể thẩm mỹ cũng chính là nhân vật trữ tình. Con người không bao giờ sinh sự, to tiếng với chính mình. Vì thế, trong thế giới của thơ anh, ngôn ngữ không ồn ào, làm dáng mà lặng lẽ, giản dị và thành thật.  Đó là thứ ngôn ngữ chân trần lấm lem bùn đất phù sa nơi thượng nguồn sông Vu Gia, chứ không phải thứ chữ nghĩa đi hia nơi thập thành ô xanh lọng tía.

 Lớp học nào lớp học đời tôi

Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa

(Điểm danh)

          Câu thơ giản dị đến bất ngờ từ chữ nghĩa đến hình ảnh. Nhưng cái điều anh trăn trở và gửi gắm là sự thao thức của bao người. Điểm danh là cách con người ý thức dừng lại trước đường ma lối quỷ.

          Khoảng lặng của chữ chỉ là thể thức của khoảng lặng tâm hồn. Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh là khoảng lặng của một tâm hồn cô đơn đến cùng cực.

Núi ngồi đợi đến tinh mai

Tôi ngồi một bóng bên ngoài trùng khơi

Bóng trăng cùng với bóng tôi

Khuất trong bóng núi gặp lời cổ nhân

(Trăng và bóng)

          Trăng và bóng và lời cổ nhân là những thi ảnh giàu sức gợi tả, lãng đãng bóng dáng Đường thi với nỗí cô đơn chất ngất của Lý Bạch khi độc chước vô tương thân, “Cử bôi yêu minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân”, hay nỗi cô tịch của Trương Kế trước cảnh “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên”…

          Đọc Nguyễn Ngọc Hạnh, ta dễ dàng bắt gặp nhân vật trữ tình ở trong trạng thái một mình, lặng lẽ. Phải chăng đó cũng chính là trạng thái, hoàn cảnh mà cái tôi trữ tình lên tiếng để làm nên một cõi thơ lặng lẽ.
 
Tôi một mình lặng lẽ đôi khi/ Lặng lẽ với giếng sâu/ Xin nối sợi dây gàu cho lòng bớt cạn.”(Đôi khi),
Chiều rơi nhỏ nhẹ/ Chiều trôi/ Mình tôi/ Đầy ắp khoảng trời không em.”(Một ngày)…
 

          Khoảng lặng một mình trong thơ anh như trái sim xa đồi hoa tím, lẻ loi bên đường nhiều ngả rẽ, hay trái lòn bon lặng lẽ xa nguồn lênh đênh vô định những miềm sóng nước. Để rồi từ những miền xa lạ ấy, hạt mầm bám đất trải nghiệm một sự tồn sinh trước gió mưa viễn xứ. Dường như sự trôi chảy trong cô đơn là cơ may để anh nhận ra cái lẽ của sự sống, ý nghĩa của sự tồn tại. Được mất ở đời chỉ là chỉ là giá trị ước lệ tức thời, nhưng cũng là cách thức để tồn tại có ý nghĩa. “Khi tất cả đi qua, dọc bờ sông phải xói mòn để giữ gìn vẻ đẹp của dòng sông. Mất mát là để tồn tại theo cách của mình, để được là mình. Ít ai hiểu nỗi lòng ấy”(Hạnh phúc lặng lẽ). Và thậm chí, đời riêng là gì khi “nấm mồ không còn riêng ai cả”(Thơ đề trên mộ).

          Ngẫm về cái chết là để soi rọi vào cái sống,  để sống sao cho tốt đẹp hơn. Mỗi người có một cuộc đời để sống, thế sự trùng trùng dâu bể sống sao cho được là mình. Đó là khát vọng thường trực, đau đáu trong đời, trong thơ của anh.

Tôi đến với dòng sông

Là đến với lòng tôi

Đời bao nhiêu dáng chảy

Sông chỉ một dòng thôi.

(Sông tôi)

          Đôi khi để hoàn thành một vai diễn con người ấy đã phải son phấn nụ cười lời nói, áo mũ lượt là chải chuốt. Anh tự biết điều đó “Ai hay mưa nắng tình cờ/ Ai hay tôi cũng giả vờ với tôi.”(Giả vờ). Đọc Nguyễn Ngọc Hạnh, trước hết,  tôi trân trọng một con người luôn ý thức về mình để không tự vượt đèn đỏ bản thân lao vào vòng đời không lối thoát.  Khả năng chế ngự bản thân sẽ đưa con người đến chỗ toàn thiện. Và ở phương diện này, mỹ học trong thơ anh cũng chính là tiếng nói của đạo đức học.

Lớp học nào lớp học đời tôi

Vắng một giây thôi sẽ không là tôi nữa

(Điểm danh)

          Trong Thơ tình Nguyễn Ngọc Hạnh, tôi nhận ra một cõi riêng tư của cái bản ngã thiền định. Có những câu thơ như những bài kệ anh dành cho mình. Được mất ở đời có gì đáng nói, chỉ có sự vong thân là điều đáng tiếc hơn cả.

Đừng để khi trở về nơi vườn hương cũ

Tiếng chim lạ rồi, mất giọng thơ xưa.

                                    (Giấc mơ)

Nửa đời phiêu bạt

Nhầm một câu thơ

Nhầm một dòng chảy

Tìm không thấy bờ

(Bài thơ chưa đặt tên)

          Anh đón nhận ánh sáng từ bi theo cách riêng của mình để sống, để làm thơ. Thiết nghĩ đó là giá trị cốt lõi cho một đời sống trọn vẹn bản thể hồn nhiên, cho một đời thơ thành thật với lòng. 

          Có ý kiến cho rằng thơ Việt sính triết lý nhưng thiếu tư tưởng. Tôi không phủ nhận thực tế ấy, nhưng lại suy nghĩ vấn đề theo hướng khác. Triết lý trong thơ Việt không phải thứ trang sức, không hẳn cái mốt thời thượng; triết lý trong thơ trước hết là một sự nghiệm sinh, một nhu cầu mà nhà thơ dành cho chính mình. Với Nguyễn Ngọc Hạnh, những triết lý trong thơ dường như là hệ giá trị sống cho riêng anh chứ không hề cao giọng với người. Do vậy, triết lý là cách để anh sống đường hoàng, tử tế với mình, với người. Điều đó chẳng đáng trân trọng sao?

          Đời người như đời sông, đâu dễ gì tường tận. “Chưa đi qua hết đò ngang/ Làm sao hiểu đời sông dọc”(Hạnh phúc). Đọc 43 bài thơ trong tập thơ Thơ tình của anh, buông mấy lời vào sông nước, tôi thấy mình chẳng khác gì kẻ đi đò ngang. Dòng sông thơ ấy vẫn đang âm thầm trôi chảy, bao nhiêu lớp sóng, bao nhiêu lở bồi, nông sâu, ghềnh thác vẫn đang tồn sinh lưu chuyển và chờ người ở cuộc phiêu bồng đầu truông cuối bãi.

                                         Tháng Ba, 2012

 

NGUYỄN HỮU VĨNH

Lên sóng lúc 12:29 ngày 06.04.2012