Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

TÂM LINH & SÁNG TÁC - Triệu Từ Truyền

 
 
 
                                 Nhà thơ TRIỆU TỪ TRUYỀN
 

Tâm linh & sáng tác

 

TRIỆU TỪ TRUYỀN

 

- Bài viết này chỉ tiếp cận tương tác tâm linh vào quá trình sáng tác, đương nhiên có luận giải bối cảnh và những nhân tố can dự vào hiện tượng đó. Với khoảng 2000 từ cho một chủ đề phức hợp không thểtrình bày theo bố cục của nhà trường, càng không thể hành văn thiếu cô đặc, đôi chỗ tầng ý ở ngoài lời chữ. Rất mong đọc giả cảm thông những sai sót nếu có, và góp ý để chủ đề dần sáng tỏ.

 

Tâm theo nghĩa gốc nguyên thuỷ của từ là bộ phận ở giữa mỗi vật thể (lạp tâm nhi/ sợi bấc nến); hoặc ruột một loài cỏ dùng thắp đèn (đăng tâm thảo); suy ra Tâm là ởgiữa sâu bên trong, khó nhìn thấy, quan trọng bậc nhất làm nên tự tính của mỗi chỉnh thể.

Linh theo nghĩa gốc nguyên thuỷ có 4 ý chính: - tinh thần con người (linh hồn); - vị thần của thiên nhiên (sơn linh/ thần núi); - nhanh trí (tâm linh như thủ xảo/ khéo tay nhanh trí – thông hiểu ( đại ngu giã chung thân bất linh/ hạng đại ngu suốtđời không thông hiểu). Linh không sờ nắm được, Linh có thể tồn tại trong hồn, trong trí, và cả trong tự nhiên (với con người là thân xác).

Từ ý niệm nêu trên có thể hiểu: Tâm Linh là năng lượng tương tác vào chất vô cơ, vào hữu cơ (thân xác), vào thức (ý thức, tiềm thức và vô thức). Năng lượng tâm linh không như năng lượng vật chất hình thành từ neutron, proton, électron và các loại hạt hạ nguyên tử khác, kể cả photon (hạt ánh sáng), năng lượng tâm linh có sức mạnh kỳ diệu bao trùm, nhưng xuất hiện không đồng đều, không tất yếu, không liên tục ở mỗi cá thể.

Dụng cụ thực nghiệm của loài người dùng để tìm hiểu thế giới vật chất nên không thể làm thí nghiệm trong thế giới tâm linh. Song, nhận biết về năng lượng tâm linh, ai cũng có thể chiêm nghiệm, mặt khác những nhà khoa học phương Tây cũng đồng thuận: “tính xác thực của một khoa học không nhất thiết tuỳ thuộc vào phép đo vật lý, cũng như các phương trình toán học phức tạp. Một giả thiết có thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm bên trong mà không hề thiếu tính chặt chẽ.” (Matthiew Ricard - Cái vô hạn trong lòng bàn tay - NXB Trẻ - 2006)

Đối với năng lượng vật chất, không phải ai cũng biết sử dụng những dụng cụ thực nghiệm, và tạo môi trường tương thích mới làm thí nghiệm thành công, cộng đồng nhân loại tin vào kết luận một nhóm nhà khoa học chuyên môn. Ai muốn trở thành nhà vật lý đều dày công học tập, đôi khi tự giam mình gần cả đời trong phòng thực nghiệm. Cũng vậy, muốn trực nhận được phần lớn tương tác của tâm linh, cũng phải dày công tịnh tâm, trong điều kiện minh mẫn và lương thiện. Hơn thế nữa, trải nghiệm tiếp cận năng lượng tâm linh bằng nội tâm cũng là một phương pháp khác của khoa học, vì khoa học thực nghiệm đã từng áp dụng phương pháp này, Trịnh xuân Thuận đã kể: “các thực nghiệm được tiến hành thuần tuý bởi tư duy rất hữu ích trong vật lý… Chẳng hạn để nghiên cứu bản chất của không gian và thời gian, Einstein đã tưởng tượng mình cưỡi lên một hạt ánh sáng, đểsuy nghĩ về lực hấp dẫn, ông đã tưởng tượng mình đứng trong cầu thang máy rơi tự do trong chân không” (Cái vô hạn trong lòng bàn tay -NXB Trẻ - 2006).

Cho đến nay không thiếu những hiện tượng thuộc về năng lượng tâm linh được mô tảqua sách báo và những phương tiện truyền thông khác. Theo lệ thường chia tương tác tâm linh ra làm hai nhóm: tâm thụtâm tác. Tiếp nhận sức mạnh tâm linh, nên gọi là Tâm Thụ. Tâm thụ, thường dùng là Thấu Thị, thi sĩ Pháp Arthur Rimbaud nổi danh là nhà thơthấu thị, như thần giao cách cảm, tiên tri, mặc khải, sáng tác hay kỳ diệu… Tâm là tác nhân duy nhất được đưa vào nhóm tâm tác, người khác kiểm chứng được, "Bản chất của cái Tâm là nó có thể hiện thực hóa được bất kỳ điều gì mà nó nghĩ đến với cường độ tập trung đủ mạnh" (Vivekananda), nên hiện tượng này là Tâm Tác (hô phong hoán vũ, phát công chữa bệnh từ xa, thấy nội tạng, tìm mộliệt sĩ, di dời vật thể…) theo người viết bài này không cần thiết phải chia ra tâm thụ và tâm tác, vì nếu không tiếp nhận năng lượng tâm linh không thể có hành vi sử dụng năng lượng tâm linh.

Năng lượng tâm linh sinh ra từ đâu và dođâu? Xin được trả lời bằng một đoạn nói về tâm linh của bài viết trước đây:

Năng lượng ấy do tương tác của: Những vũ trụ hình thành từ phản vật chất (tạm gọi là vô hình) khác với vũ trụ mà con người đang sống và quan sát được; Ý thức tối của vật chất tối (các nhà khoa học cho rằng vật chất tối chiếm đến 70% vật chất trong vũ trụ, tạo thành cấu trúc và phát triển của các thiên hà, giữ cho trái đất không bị mặt trời hút vào thiêu cháy hoặc ngươc lại lao vào vụ trụ tối tăm lạnh lẽo…) ; Ý chí, khát vọng, đam mê của con người còn lại sau khi thân xác đã mất đi; Và còn nữa mà lời chữ của loài người không mô tả hết được, có thể nhận biết được bằng trực cảm hay thiền quán.

Khái niệm tâm linh không giống với quan niệm của hữu thần về tâm linh; nghĩa là tất cả không phải do một đấng toàn năng (Thượng đế) tuyệt đối chi phối; mà là sức mạnh của năng lượng dấu mặt chi phối tấm lưới vũ trụ,trong đó có vũ trụ của loài người (3 chiều không gian + 1 chiều thời gian) chỉ là một mắt lưới mà thôi. (lý thuyết siêu võng cho rằng thực tại có 9 chiều không gian và một chiều thời gian, nghĩa là có những vũ trụ 5 chiều, 7 chiều.v.v.. Hawking viết trong quyển Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ: “không biết tôi ở đây (vũ trụ này) là hình hay là bóng của tôi ở kia (vũ trụ khác)” .

Với tri kiến này, Tâm linh không có thuộc tính duy tâm và đồng thời cũng không có thuộc tính duy vật, không có gì chung với những bài viết khác về tâm linh để minh hoạ cho tín ngưỡng đa thần hay độc thần, cho học thuyết chính trị hay có lợi cho người hành nghề ngoại cảm, và thậm chí lẫn lộn với mê tín hoặc trò xảo thuật. Luận sư tâm linh Osho dù phủ nhận định nghĩa tâm linh là chống lại duy vật, nhưng giới hạn tâm linh vào chủ thể. Osho cho rằng tính chủ quan thuần khiết là tâm linh… Phải chăng đấy là cách luận giải tâm linh của triết học nhị nguyên, chưa thấy hết sức mạnh của năng lượng tâm linh? Biểu hiện của tâm linh chắc chắn không phải do chủ quan thuần khiết. Ở đây, tâm linh là năng lượng, lan toả như sóng để có hiện tượng thần giao cách cảm, tiên tri, sáng tạo nghệ thuật…; đồng thời có thể tạo ra khối lượng có sức mạnh dịch chuyển vật thể, xoá nhoà mầm bệnh, ráp nối tức thì xương bị gãy….

“… Năng lượng tâm linh tương tác vào thiên hà, vào hệ mặt trời, vào tráiđất; tương tác vào hạt hạ nguyên tử, vào tế bào, vào thân xác, vào tinh thần của mỗi người. Tương tác tâm linh cũng không liên tục mà theo những bước nhảy lượng tử, đầy tính xác suất. Vì vậy, con người không chỉ là thân xác có ý thức mà còn bao bọc bởi tâm linh, năng lượng tâm linh mạnh hơn vật chất và ý thức, nhưng không đồng đều cho mỗi cá thế. Tâm linh sẽ can thiệp đúng lúc vào sáng tác của văn thi sĩ, quyết định phút xuất thần của thiên tài cho ra những tác phẩm hay, độc đáo, tối ưu.” (trích bài viết Tại sao văn học Việt Nam tụt hậu?).

Đoạn viết trên không phải là dự cảm, mà là hệ quả của thực nghiệm khoa học bằng phương pháp nội tâm, dĩ nhiên cũng là một lý thuyết cần tiếp tục suy nghiệm.

Ánh sáng không chỉ là lượng tử năng lượng (Max Planck) mà còn là lượng tử của tâm linh, nếu như độc giả đồng thuận với Goethe ánh sáng có bản chất tâm linh với nhiều màu sắc là những hành vi và nỗi đớn đau của ánh sáng. Làm thế nào mà ánh sáng tạo ra được loài người, trong đó có văn thi sĩ? Câu hỏi đó chỉ giảiđáp được khi khoa học hoà giải hoà hợp với phương pháp tâm linh.

Trường phái Não Luận đã luận giải rằng Tâm chỉ là hiệu ứng, là tác dụng của bộ não, của hệ thần kinh, của hệ nội tiết,của mô tế bào não. Trường phái Tâm Luận khẳngđịnh tâm là một hữu thể, độc lập và chi phối não. Tâm có trước sử dụng não làm công cụ thể hiện, não tương tự một màn hình còn Tâm là đài phát.

Theo người viết bài này, cách phân chia ấy là theo tư duy cũ, lệ thuộc triết học lỗi thời từ thế kỷ 19 trở ngược về cổ đại. Tâm linh bao trùm cả Tâm và Vật, xuất hiện theo xác suất, như phần đầu đã nêu trong khái niệm. “Thế kỷ XX, Vật lý có hai thành tựu: Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử. Thế kỷ XXI, theo như tiên đoán của nhiều học giả nổi tiếng, sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là sự nhận thức được rằng, Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau.”(GS.VS Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lý, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người về Khoa học và Tâm linh)

Đến đây đã nêu khá đủ luận cứ để trình bày năng lượng tâm linh trong quá trình sáng tác văn học.

Khi một người cầm cây bút hay gõ bàn phím là muốn tạo ra một chuổi từ ngữ; những từ đó là những vật thể kết hợp do mực và giấy, mực và giấy cũng được hình thành từ nguyên tử và những hạt tự do. Vô số nguyên tử và hạt ấy chỉ thành một câu văn, câu thơ khi nó được sắp xếp theo tư tưởng và tình cảm của tác giả theo quy ước của cộng đồng, nhưng sự tham gia của ý thức vào từ và câu chưa đầy đủ để gọi là văn hay thơ. Phải chăng cần phải có sóng năng lượng tâm linh tham gia vào sóng ánh sáng của câu chữ để viết và đọc mới sáng tạo nên tác phẩm văn học? Hạt vũ trụ xuyên qua não và tim cũa tác giảrồi cũng đi qua mực và giấy bên ngoài, hàng tỷ tỷ hạt như thế làm sao mà không tương tác vào nguyên tử của những câu văn, câu thơ, dưới dạng sóng giao thoa với nhau. “Sáng tạo thơ chính là ở thần khí của bài thơ, thi sĩ chiết ra từdòng năng lượng tâm linh hoà nhập vào ngôn ngữ thơ tạo ra dung lượng mỗi bài thơ…” (Những chữ qua cầu tâm linh - NXB Văn Học - 2/2008).

Tuy vậy, không phải người cầm bút nào cũng được năng lượng tâm linh tương tác hoàn hảo, tương tự như mỗi bộ não cấp độ trí tuệ không ngang nhau. Người sáng tác thiểu tâm linh như thiểu trí, thiểu tâm linh còn trầm trọng hơn, thiểu tâm linh không thể có tác phẩm đặc sắc được.

Những người được xã hội phân công cầm quyền, nên hiểu trí thức trong đó có văn thi sĩ đích thực là những người phong phú trí tuệvà đậm đặc năng lượng tâm linh, bộ phận này là sợi bấc nến của xã hội loài người (như định nghĩa Tâm ở phần đầu). Ở đâu không thành tâm tôn trọng trí thức, ở đó không có ánh sáng. Chỉ những người cho rằng bạo lực sinh ra quyền lực mới phủ nhận vị trí, vai trò trí thức.

Cuối thế kỷ19, thi sĩ Arthur Rimbaud viết: tôi nói cần phải là Người thấu thị, làm cho mình là Người thấu thị” (Je dis qu’il faut être Voyant, se faire Voyant) cũng như trước đó Mộng Liên Đường nói về Nguyễn Du: “Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy.”

Muốn là người viết “có con mắt trông cả sáu cõi…, có tầm thấu thị”, phải chăng ý thức phải theo dòng năng lượng tâm linh?!

Gia Định, 02.02.2012

 

 

 

 Lên sóng lúc 18:37 ngày 30.12.2012