Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

THANH TÂM TUYỀN: Nhà thơ của TỰ DO

                                                                                                 TRẦN LÊ
 
               Ca khúc LỆ ĐÁ XANH - Thơ: THANH TÂM TUYỀN
                       Nhạc: Cung Tiến - Trình bày: Khánh ly 
 
THANH TÂM TUYỀN, NHÀ THƠ CỦA TỰ DO VÀ HỒN THẾ GIỚI (1)
[15.04.2011 19:27 - Nhịp Cầu Thế Giới Online]

(NCTG) “Tự do trong thơ Thanh Tâm Tuyền, trước hết ở chỗ ông đã phá bỏ mọi mô thức cũ và cách biểu hiện cũ, đưa cái tôi và xúc cảm cá nhân lên vị trí trung tâm, và cái tôi ấy là một cái tôi muốn phá tan mọi xích xiềng, với hơi thở của tự do.”


Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau

Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới…

“Dạ tâm khúc”, ca khúc nổi tiếng của Phạm Ðình Chương, với phần lời dựa trên thi phẩm “Dạ khúc” của Thanh Tâm Tuyền, là điển hình của thành công giữa hai nghệ sĩ lớn của Việt Nam thế kỷ 20. Trong đó, Thanh Tâm Tuyền, người đổi mới ngôn ngữ văn xuôi và thi ca vĩ đại nhất kể từ năm 1954 trở lại đây, đã rời xa dương thế tròn 5 năm.

Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh năm 1936 tại TP Vinh, di cư vào miền Nam sau biến cố 1954. Cùng các bạn văn nghệ đã thân quen từ hồi còn sinh hoạt ở Tổng hội Sinh viên Hà Nội, ông tham gia BBT báo “Sáng Tạo” do nhà văn Mai Thảo đứng tên, và đương nhiên được xem như thành viên chủ đạo của nhóm.

Là một văn đoàn có ảnh hưởng rất lớn đối với nền nghệ thuật Việt Nam thế kỷ 20 bên cạnh “Tự lực Văn đoàn”, nhóm “Sáng Tạo” còn quy tụ những tên tuổi lớn khác trong văn học, hội họa và âm nhạc như Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sỹ Tế, Quách Thoại, Thái Tuấn và Cung Tiến.

Trong những ảnh hưởng lớn lao mà “Sáng Tạo” đem lại cho sinh hoạt văn hóa miền Nam thuở ấy, nỗ lực cách tân và dứt bỏ những truyền thống níu kéo trong thi ca của Thanh Tâm Tuyền, với dòng thơ tự do của ông, được đánh giá là có vai trò nổi bật.

Sau năm 1975, Thanh Tâm Tuyền bị đưa đi cải tạo trong hơn 7 năm ở các trại giam tại miền Bắc. Ðầu thập niên 90, ông sang Mỹ định cư ở Minnesota và qua đời ở tuổi 70 vì căn bệnh ung thư phổi, để lại một khoảng trống không gì bù đắp nổi trong nền văn học Việt Nam nói chung.

*

Thanh Tâm Tuyền sáng tác từ khi rất trẻ và mặc dù chỉ cho in ấn chừng 10 đầu sách, ông đã để lại những giá trị rất đáng kể trong cả hai thể loại văn xuôi và thi ca. Ở đây, trong khuôn khổ hạn hẹp của hai bài viết, chỉ xin điểm qua một vài nét nổi bật trong thi nghiệp rất phong phú và không ai bắt chước nổi, của ông.

55 năm sau ngày chàng trai Thanh Tâm Tuyền bay vào thi đàn Việt Nam như một vì sao băng với tập thơ “Tôi không còn cô độc” (1956) khi mới tròn 20 tuổi, có thể bình tâm khẳng định rằng, ngay từ lúc sinh thời, nhà thơ đã có một chỗ đứng chủ chốt trong Làng thơ Việt Nam.

Với sự kiêu hãnh và cô đơn trong tác phẩm, sự khai phá trong ngôn từ và hình thức thể hiện, với chiều sâu và tính phổ quát mang tầm kích thế giới trong ý tưởng, đến nay, thi nghiệp của ông vẫn còn là nguồn cảm hứng đối với những nhà thơ trẻ khao khát đổi mới.

Nhận xét về “Tôi không còn cô độc” và “Liên-đêm-mặt trời tìm thấy” (1964) - hai tập thơ tiêu biểu của Thanh Tâm Tuyền, những cột mốc sừng sững trong cố gắng đổi mới nền thơ Việt Nam - nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc viết: “Hai tập thơ đã trình bày trước độc giả con người của Thanh Tâm Tuyền một cách khá rõ nét.

Kiêu căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, cô đơn, cô lữ, lãng mạn, tha thiết, dằn vặt, yêu thương, khô khan, bùng cháy, mệt mỏi, hoài nghi, thất vọng, siêu hình, trong sáng, rắc rối, phức tạp, xót xa, phẫn nộ...

Đó là một số từ chúng ta có thể dùng để nói về thơ Thanh Tâm Tuyền, về Thanh Tâm Tuyền. Ông đã sống thiết tha và vũ bão như vậy. Có những lúc ông cũng đã cảm thấy mệt mỏi, hoài nghi, và thất vọng, nhưng trong tất cả những trạng thái sống đó, tôi chưa từng thấy ông sợ sệt”.

Với ngần ấy đặc tính, độc giả khi đọc thơ Thanh Tâm Tuyền thường có cảm giác như đang đi vào một mê cung, với trùng trùng điệp điệp những mê lộ. Thơ ông bị nhiều người coi là lập dị, khó hiểu, vì không chỉ nó mới, mà còn lạ và khác với tất cả những gì đã có, đặc biệt là với Thơ Mới, vốn được coi là chuẩn mực của thi ca Việt Nam.

Nhưng, bình tâm và đọc kỹ, có thể thấy “thơ của Thanh Tâm Tuyền là thứ thơ trí tuệ, giản dị mà phức tạp, rất đẹp mà không một nỗ lực làm dáng”, như cái nhìn của ký giả Bùi Bảo Trúc. Và, tựu trung, đó là những tuyên ngôn của tự do và tình yêu, được đặt trên một bình diện mới, và mang tinh thần thế giới.

Tự do trong thơ Thanh Tâm Tuyền, trước hết ở chỗ ông đã phá bỏ mọi mô thức cũ và cách biểu hiện cũ, đưa cái tôi và xúc cảm cá nhân lên vị trí trung tâm, và cái tôi ấy là một cái tôi muốn phá tan mọi xích xiềng, với hơi thở của tự do.

Khao khát tự do ấy được thể hiện rõ hét trong “Phục sinh”, một thi phẩm nổi tiếng trong thời gian đầu của ông, hàm chứa nhiều hình ảnh mang tính hiện sinh và siêu thực mở đường cho ca từ của Trịnh Công Sơn sau này:

tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
cho đứa nhỏ linh hồn
sợ chó dữ
con chó đói không màu
 
tôi buồn chết như buồn ngủ
dù tôi đang đứng bên bờ sông
nước đen sâu thao thức
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
em bé quàng khăn đỏ ơi
này một con chó sói
thứ chó sói lang thang

Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc có nhận xét rằng, tình yêu tự do khiến Thanh Tâm Tuyền nhiều lúc phải phẫn nộ và phản kháng, dù là có lý do hay vô cớ, vì xét cho cùng, “phẫn nộ, phản kháng là yếu tính của con người nghệ sĩ, của kẻ sáng tạo”. Những vần thơ trên được Bùi Vĩnh Phúc lý giải như là “một cơn phẫn nộ vô cớ”:

Nào ai có biết tôi phẫn nộ gì. Cuộc đời này lúc nào cũng chật hẹp, tù túng, người nhìn người hau háu những móng vuốt giơ ra. Tôi phẫn nộ với tất cả mọi thứ đảo lộn hay đã được sắp xếp để đặt vào thế giới này. Hãy hét lên cho nguôi giận”.

Tự do cũng được Thanh Tâm Tuyền khắc họa trong bài thơ “Nhịp ba” đề tặng nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nói lên sự phản kháng trước thời cuộc đau thương mà dân tộc Việt Nam phải chịu đựng:
 
Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
Lưỡi lê thấu phổi
Tim còn nhảy đập
Nhịp ba nhịp ba nhịp ba
Tình yêu, tự do mãi mãi

(...) Đất nước ào ào vỗ nhịp
Triều biển chập chùng
Hà Nội Huế Sài Gòn
Ôm nhau nức nở
Có người cầm súng bắn vào đầu
Đạn nổ nhịp ba
Không chết
Anh ngồi nhỏm dậy
khỏe mạnh lạ thường
Bước ai thánh thót

Nhịp ba
Tình yêu
Tự do
mãi mãi
Tình yêu tự do mãi mãi
Tình yêu tự do
mãi mãi anh ơi

Tự do còn được tác giả nhắc đến trong một bài thơ tình ngợi ca tình yêu - ấy là tự do tràn trề trong cảm xúc bên người tình:

Trang sách khởi đầu viết
mắt người cần ánh sáng
môi người cần mặt trăng
bàn tay đòi mặt trời
và ngực em tự do
của anh của anh tất cả

Nhưng có lẽ không niềm yêu tự do nào được thể hiện bi tráng hơn, phẫn nộ hơn trong một bài thơ được nhà phê bình Ðặng Tiến gọi là “quốc tế ca”. Sáng tác vào tháng 12-1956, vài tuần sau khi cuộc cách mạng dân chủ của người dân Hungary bị đè bẹp bởi Hồng quân Liên Xô và xích chiến xa Nga dày xéo Budapest, thi phẩm này được đăng trên “Sáng tạo” số tháng 1-1957, với tựa đề có lẽ không thể dài hơn: “Hãy cho anh khóc bằng mắt em - Những cuộc tình duyên Budapest”.

Ðặng Tiến nhận xét rằng, trước khi sang Hoa kỳ định cư, Thanh Tâm Tuyền chưa bao giờ ra khỏi Việt Nam, nhưng thơ ông đầy những thành phố ngoại quốc, từ Warszawa, Berlin, Bình Nhưỡng, Bắc Kinh, Moscow, Praha, Paris, Madrid, Brussel, Geneva đến Budapest. Hồn thơ ông là hồn thơ đô thị và mang tính thế giới.

Và như thế, cảm quan nghệ thuật và tinh thần quốc tế đã khiến chàng trai 20 tuổi Thanh Tâm Tuyền đã có sự đồng cảm với dân tộc Hungary xa xôi qua những vần thơ rất đẹp, nhưng cũng rất lạ và đặc biệt, giận dữ và đau lòng, phẫn nộ nhưng yêu thương:

Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác

Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa thép vào
Môi son họng súng
Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào

Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai

Hãy cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi

Hãy cho anh ngủ bằng trán em
Đau dấu đạn
Đêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng

Hãy cho anh chết bằng da em
Trong giây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest

Tròn 55 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy, Hungary luôn tri ân những chia sẻ tinh thần mà đất nước này đã nhận được trong những giờ khắc hoạn nạn tháng 10-11 năm ấy. Một cuộn phim tư liệu còn ghi lại hình ảnh thanh niên, sinh viên và trí thức Sài Gòn giơ cao biểu ngữ ủng hộ cuộc chiến đấu giành tự do và độc lập dân tộc của người dân Hung Gia Lợi.

Rất có thể hình dung được rằng, tinh thần của Thanh Tâm Tuyền đã hiện diện trong những cuộc xuống đường, trong những ngày ấy và những giờ khắc ấy...

Xem tiếp Phần 2 của bài viết.

Trần Lê – Còn tiếp

THANH TÂM TUYỀN, NHÀ THƠ CỦA TÌNH YÊU (2)
[15.04.2011 19:53 - Nhịp Cầu Thế Giới Online]

(NCTG) “Thật ra, bài nào của Thanh Tâm Tuyền lại không có tình yêu trong đó. Tình yêu giữa nam và nữ. Tình yêu mến thiên nhiên, yêu thương con người nói chung. Tình yêu giữa ánh sáng và bóng tối, tình yêu đồng loại bị dồn nén bởi sự tàn ác, bất công và nước mắt - nổ bùng ra thành phẫn nộ.

Xem Phần 1 của bài viết.

 
Nhà thơ THANH TÂM TUYỀN
(tranh: Hs RỪNG)

Tình yêu làm Thanh Tâm Tuyền trở nên lãng mạn, và đau khổ, nhục nhằn. Tình yêu xót xa hoà chung với sự đau khổ vì nỗi đời, vì mệnh nước”.

Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc đã nhận định như thế về Thanh Tâm Tuyền và mảng thơ tình của ông. Ðúng vậy, thơ Thanh Tâm Tuyền, về căn bản, là thơ về tình yêu, và bên cạnh tình yêu tự do, bao trùm lên tất cả, là tình yêu nam nữ, tình yêu con người trong phận nổi trôi của đất nước.

Tuy nhiên, thơ tình của Thanh Tâm Tuyền khác hẳn thơ tình của các bậc thày tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính... Trong thơ ông, tình yêu không cần những trợ lực truyền thống như con sông, bến nước, cây đa, mà cũng không thấy những hình ảnh quen thuộc như chú nai tơ, mùa thu vàng...

Bởi lẽ, tình yêu trong thơ ông là tình yêu của những cặp trí thức nơi đô thị, chìm đắm trong những bải hoải, mệt nhoài của những tâm tư hiện sinh về thân phận, những đau buồn của vận nước chia ly. Giới trẻ đương thời, dù khó thuộc nguyên văn một bài thơ của ông, nhưng không mấy ai không nằm lòng cảm xúc của “những người khóc lẻ loi” trong “Lệ đá xanh”:

Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng Đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

Tâm cảm của Thanh Tâm Tuyền, có lẽ đã đụng chạm tới những sợi dây tình cảm sâu xa của Phạm Ðình Chương, người chịu nhiều bất hạnh trong đời tư thời gian ấy, khiến nhạc sĩ họ Phạm đã phổ thành nhiều nhạc phẩm rất nổi tiếng và có sức lan tỏa, như “Dạ tâm khúc”, “Ðêm màu hồng”, và đặc biệt là “Nửa hồn thương đau”.

Cho dù kiêu hãnh ngay ở tựa đề tập thơ đầu tay “Tôi không còn cô độc”, nhưng Thanh Tâm Tuyền và tình yêu trong thơ ông, phần nhiều là cô quạnh, là cảm giác hôm nay bên nhau nhưng đã phải nghĩ tới khi xa nhau, trong mất mát và trong viễn ảnh đáng sợ của ngày mai, như thi phẩm nổi tiếng “Dạ khúc”:

Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Ðiệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
như bàn ghế không bầy

Thôi em hãy đứng dậy
người bán hàng đã ngủ sau quầy
anh đưa em đi trốn
những dày vò ngày mai

Cảm xúc mong manh, rã rời của tình yêu và thân phận con người trong thơ Thanh Tâm Tuyền, thông qua hệ thống những biểu tượng mang màu sắc siêu thực của ông, đã có ảnh hưởng lớn đến giới nghệ sĩ trẻ thời đó, đặc biệt là ca từ trong nhạc tình của Trịnh Công Sơn. Nhưng không dừng ở đó, trên cương vị người đổi mới thi ca, đồng thời ông cũng là người khát khao đổi mới tình yêu:

Con đường chưa ai tới
Màu hoa nào chưa ai trao nhau
Những nghĩa chữ còn hoang
Câu thề thốt lạ thường
Nơi không gian còn tuyết trinh
 
Lửa ấm cho lời nói
Những đêm sao ở mắt nhìn
Bắt đầu từ trao tặng
Bắt đầu từ một lần hò hẹn
Cách nắm tay nghẹn ngào
Ngón tay âm thầm trò chuyện
Những bước chân thỏ rừng
Chạy trên cỏ sắc
Sợi tóc đen như một chuỗi cười
Trên chúm môi lá biếc
Những chòm hôn vội vàng
Làm những vì sao đổi ngôi
Anh muốn làm mới tình yêu

Những khi thoát khỏi hoặc tạm bỏ qua tâm trạng hoài nghi, xót xa và dằn vặt trong tình duyên, Thanh Tâm Tuyền đã có những vần thơ trong trẻo, đầy nhạc tính, nhịp thơ của ông dồn dập và tràn đầy hành động như trong “Bài thơ của tháng Giêng”:
 
Anh phải làm mới tình yêu
Như sửa sang nhà cửa
Như xây dựng thành phố
Như vun bón ruộng vườn
Như nhìn vào vũ trụ
Khi thế giới vừa dựng
Sẽ mời mọc tình nhân
Khi mặt trời vừa thức
Đòi gặp mùa xuân
Cho làn mi lá ngủ
Cho khoé mắt biển sâu
Cho đồi hoa bát ngát
Bài thơ tình đã bỏ
Ngôn ngữ thiên nhiên của mọi tình duyên là một
Phải làm mới tình yêu
Coi chúng ta là những người thứ nhứt
Trên trái đất này biết yêu nhau
Để những cặp tình nhân khác bắt chước
Để con cái sau này không khổ đau.

Tình yêu trong thơ ông, có lúc hòa cùng thiên nhiên, vạn vật, và qua đó, gắn kết với quê hương, như câu kết tiểu thuyết “Bếp lửa”, được sáng tác năm 20 tuổi mà như nhà phê bình Ðặng Tiến, “một câu kết, để đời, – khi hiu hắt, khi ngời sáng, trong tâm thức thế hệ chúng tôi”: “Anh yêu quê hương vô cùng và anh yêu em vô cùng”.

Em bao giờ là thiên nhiên
anh cúi đầu xuống ngực
giòng mưa sắc lá
đau môi
 
Cỏ của hoa và hoa của cỏ
những ngón tay những ngón chân những nụ cười
nắng tháng ba mưa tháng bảy sương tháng chín
cho thơm đường hôm nay đến sớm mai
hôn từ ngày dài tội lỗi
chưa quên
 
(...) cỏ ơi cỏ kết thành lời
dàn nhạc huy hoàng
cô đơn
 
Giấc vụng về
tia nhọn sáng
đừng rơi hoàng hôn cánh rừng dầy
những ngực thương nhau
không áo
vì cỏ dại rối bời
 
Chúng ta ôm thời gian trong suốt
chẳng phân vân
như mặt trời chuyện trò cùng lũ cỏ
như lá cây thầm ngã phủ vai trần
như tiếng tim thốt cười ngoài dĩ vãng

Thanh Tâm Tuyền, cũng có lúc, đã khắc họa tình yêu mê mải, miệt mài, hòa quyện với những hoài niệm xa xưa, như trong “Liên, những bài thơ tình thời chia cách”, một “tiểu trường ca” gồm 6 đoản khúc, với lời khẳng định đầy trừu mến trong hai câu thơ mở đầu:

Sự em có mặt cần thiết như những sớm mai
(nếu đời người không có những sớm mai)

để rồi khắc họa tình yêu bình dị, sáng trong nơi đô thị:
 
Anh nhớ em cùng một lúc với thành phố
với những con đường anh đi qua một lần
để đến nhà em anh băng ngang một vườn hoa vắng
(lần trở về anh ngồi xuống ghế dài
nếu là buổi chiều quạnh hiu mây lá mùa thu)
một phố bình dân có chợ và những quán ăn
giản dị như trang nhật ký của anh
ngày bắt đầu yêu em
 
(...) Sự vắng mặt của em và bãi biển mùa đông
thành phố đau từ mỗi cột đèn
mỗi bực thềm cửa đóng
em đi không nón không áo choàng
mừa tầm tã
những cửa sổ đêm muốn hé ra
nổi loạn
và mắt em mặt trời cỏ hoa với môi anh đằm thắm
và rực rỡ nhớ thương
 
Quá khứ trong thơ Thanh Tâm Tuyền, có khi khiến ông chìm đắm:
 
Nét cong môi hồng mắt tình cờ
ngực hoa yếu đuối
những miền không gian được gọi qua
tình yêu không thẹn thùng
đâu phải một thứ mưa ô bay vào thành phố
năm cửa ô hồi sinh trên xác năm cửa tù
mưa nắng cùng rủ nhau xuống Sinh Từ ngõ Hội vũ
bao nhiêu đường tình tự ga Hàng Cỏ
nụ hôn đầu ôm mái tóc lang thang
tà áo bàn tay hương trẻ con
hoàng hôn tỉnh
kim khí khua trong bước trở về nhà cửa
sự vắng mặt không thể lâu hơn nữa
thù nghịch tan vào hơi thở
trong giấc hôn mê thôi khóc tiếng mèo đêm
tình yêu mầu nhiệm hoàn thành
vĩnh viễn

thì cũng chỉ để nhấn mạnh tình yêu hiện tại, với tất cả những sắc màu, cung bậc của tình cảm, lúc trầm lặng, lúc mạnh mẽ và đầy chất lửa:

có thể em chết trước khi anh kịp về
mùa lạnh gian phòng cũ
không ai khép cửa sổ
cúi xuống viền mi những bóng tối bên ngoài
có thể rồi anh sẽ yêu người đàn bà thứ hai
anh không chối
nhưng mãi mãi em còn là đất dĩ vãng
mà rễ tình cảm đòi bén gần
và những viên gạch những lối xưa
còn chiêm bao gót em mềm âu yếm
em ơi tình yêu thương đến vào buổi chiều
đúng hơn là buổi sáng rừng tâm hồn ta
vậy sao em lại ngủ
ngủ trong lòng mộ trong nghĩa địa thân thể anh
với áo cỏ may châm da thịt
anh đã đến từ biệt lùa mái tóc vào những ngón tay
những giọt lệ sương lấp lánh
anh hứa trở về không đối diện với thù
giòng sông chỉ còn tiếng sóng vỗ
cười tung lồng ngực chứa chan
thành phố đứng cao làm hiệu
rằng anh còn trở về
rằng anh còn người yêu
nàng công chúa ngủ trong rừng không giận hờn
LIÊN

Người nghệ sĩ từng hô vang “tôi không còn cô độc”, nhưng thực ra đã cô độc với những đổi mới, khai phá trong hình thức và nội dung thi ca, đã kiêu hãnh đặt tựa đề “Bài ngợi ca tình yêu” cho một thi phẩm đỉnh cao, như một tuyên ngôn về tình yêu và tự tình dân tộc, từng được Phạm Ðình Chương phổ nhạc:

Tôi chờ đợi
lớn lên cùng giông bão
hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai
tìm cánh tay nước biển
con ngựa buồn
lửa trốn con ngươi
 
Đất nước có một lần
tôi ghì đau đớn trong thân thể
những giòng sông những đường cầy núi nhọn
những biệt ly rạn nức lòng đường
hút chặt mười ngón tay ngón chân da thịt
như người yêu từ chối vùng vằng
 
(...) Em gối đầu sương xuống
chuyện trò bằng bóng hình
 
Tôi đẹp như hình tôi
như cuộc đời
như mọi người
như chút thôi
anh yêu lấy em
 
Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát
sớm mai khuya thức nhiều nhớ thương
em là cánh hoa là sương khói
đêm màu hồng...

Vụt vào thi đàn Việt Nam ở tuổi hai mươi như một ánh chớp, với tuyên bố gây sửng sốt “ta hai mươi tuổi như nhân loại”, Thanh Tâm Tuyền đã đốt cháy mình trong hai tập thơ đầu. Như nhận xét của Ðặng Tiến: “Thơ Thanh Tâm Tuyền, tự nó, là một thế giới, và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới. Đây là đặc tính của thơ Thanh Tâm Tuyền, ở những nhà thơ khác dù rất hiện đại, cũng không có, hoặc không rõ nét”.

Trong nỗ lực cách tân triệt để ấy, Thanh Tâm Tuyền dù gây được ảnh hưởng lớn lao nhưng ông đã không có người kế tục. Từ mốc 1945, thơ tự do của Việt Nam, khởi đầu từ Nguyễn Xuân Sanh của “Xuân Thu Nhã Tập”, qua Nguyễn Ðình Thi, Trần Mai Ninh, Hữu Loan, đến hai tên tuổi lừng lẫy, hai vị chủ soái là Trần Dần ở miền Bắc và Thanh Tâm Tuyền ở miền Nam, đã đặt ra những cột mốc mà các tác gia hiện tại vẫn chưa, hoặc không có khả năng vượt qua.

ở thành phố thiếu thốn
ở làng mạc đọa đầy
tôi là tiếng nói là tiếng khóc
những người bỏ đi hẹn trở về
những người mím hơi thừa chịu đựng
tôi chờ đợi
tôi là tiếng thơ là tiếng cười
mai Việt Nam hỡi mai Việt Nam

Năm năm sau ngày ra đi, khoảng trống mà Thanh Tâm Tuyền để lại trong thi đàn Việt Nam vẫn y nguyên, như ngày nào...

Trần Lê