Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

Tiếng quê hương trong TRANH LẮP GHÉP BẰNG CHỮ

                                                                                                                 HUỲNH MINH TÂM
  
 

 

TIẾNG QUÊ HƯƠNG TRONG TRANH LẮP GHÉP BẰNG CHỮ

 

( Nhân đọc tập thơ Tranh lắp ghép bằng chữ của Nguyễn Tam Phù Sa

                                                                               -Sứ trắng làng đông ấn hành, 2012)

 

   Tiếng thơ là tiếng lòng. Tiếng lòng là nỗi lòng của cái tôi cô đơn lấy quê hương-điểm tựa cuộc đời, làm đối tượng để phản ánh, làm hình tượng để mơ màng, làm “ bờ bên kia” để tinh tấn. Dường như những điều này không khác nhau nhiều lắm với mỗi con người xa xứ, với phần lớn nhà thơ; và chúng chỉ khác nhau ở những tần suất hoặc độ cao, độ sâu các rung động, hoặc là ở những cách thức thể hiện. Những nhà thơ lớn như Thôi Hiệu  đã có những câu thơ để đời :

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

     Nhà thơ Huy Cận đã làm chúng ta mê mệt với  : “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa/ Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” . Còn nhà thơ Nguyễn Tam Phù Sa cũng đã có những câu thơ làm chúng ta xao xuyến “ Lọc cọc ngựa già toan qui ẩn/ Qua Câu Lâu bỗng nhớ thuở đi cày/ Vác ruộng chạy khắp đồng kêu-nước/ Giục lòng như thể giục trâu đi/ Hành phương Nam bôn tẩu mấy mươi năm/ Rơm rạ giữa lòng còn ngún khói” (  Qua Câu Lâu bỗng nhớ…)

 

 Đọc Tranh lắp ghép bằng chữ là trở về cố xứ vùng đất Quảng Nam với những hình ảnh thân thương rơm rạ mùa vụ, với cánh cò bóng mẹ chấp chới cánh diều, với hoa gạo đỏ lay lắt nhớ những chiều vàng vọt thời gian, nhớ thương một cô hàng xóm. Có lẽ Nguyễn Tam Phù Sa đã gửi gắm tất thảy những giọt lệ hạnh phúc hoặc buồn đau trong những bài thơ nhiều hình ảnh và xúc động “ Tôi nhớ Quảng Nam/ Vú cát, núm đời ai vắt kiệt/Người xê dịch kiểu gì ?/ Chết tàn rữa thành bụi/ Da bùn non bong vỡ chua chát/…Xứ sở bài chòi/ Mẹ ngồi chụm lửa/ Tháng chín sụt sùi. Mưa giập” ( Tôi nhớ Quảng Nam)”. “ Xôi cúc, xôi đậu xanh, xôi…/ Giọng ai như giọng mẹ tôi một thời/ Dẻo thơm bươn chải chợ trời/ Xuề xoà nhặt nhạnh lỗ lời chanh chua/ lật đật đò khẳm chợ trưa/ Chòng chành liền gió liền mưa chòng chành” (  Nghe rao xôi cúc nhớ mẹ ngày xưa).

 

  Đọc thơ của Nguyễn Tam Phù Sa không phải như ta đi tìm một báu vật, nghĩa là không tìm những điều mới mẻ, những cảm xúc mới lạ, những nơi chốn bất tưởng, hoang đường, mà ta về lại căn nhà chật hẹp, nghèo nàn của tranh nứa, của vách lá đơn sơ mộc mạc của mẹ ta- nơi ấy gần gũi, thân thương, chất chứa những kỷ niệm buồn nhiều hơn vui, những linh hồn văn hoá của ông bà, nếu không khéo gìn giữ dễ bị mai một, tàn phai. “ Phía ngày thổi rạt phía đêm/ Trầu cau xa vắng mà nên đá vàng/ Nhà anh qua ngõ nhà nàng/ Mấy lần muốn gọi mấy lần lại thôi/ Dùng dằng lệch bốn tao nôi/Mình anh niú một khoảng trời trống không” ( Để nhớ một thời anh yêu em).

 

  Trong Tranh lắp ghép bằng chữ, bạn đọc dễ dàng nhận ra quê hương là nguồn cảm hứng bất tận của nhà thơ, là thi tứ thi ảnh, rất cụ thể và sinh động, đồng thời cảm xúc của nhà thơ cũng mênh mang “ quá chén” để gợi nhớ, gợi mở một quê hương có chiều sâu trong trí nhớ. Quê hương của sông suối và nước mắt : “Nghĩ về dòng sông thiếu nhịp cầu/Trẻ lội sông tìm chữ/ Buồn” (Những dấu lặng bật khóc); “ Con xa quê lật đật nhảy tàu nhanh/ Cảng sông Hàn/ Mắt mẹ vỡ thành sông/ Nước bỗng mặn hơn chiều hôm trước” ( Đêm báo bão). Quê hương của tri ân và bất tử, của ngổn ngang bao trắc ẩn : “ Mài bút ghi công đức mẹ/ Trải lòng chạm khắc tình cha/ Trăm năm có hình giọt lệ/ Long lanh cuối dải thiên hà” ( Thơ khắc sau bia của mẹ); “ Nhẫn nại/ Tiếng chỗi tre mài mòn hộp sọ vô cảm/ Những cao ốc chọc trời câm lặng/ …/ Mưa lật nhầm nón lá/ Người phu quét đường/ Bồ tát quét rát” ( Người phu quét đường Bồ Tát quét rát). Quê hương của một thời gian khổ nhưng rất đẹp về tính cách : “  Nhà, đất phù vân  khúc đoạn phân ly/ Mốc sinh tử cuối cùng hai thước mộ/ Xin níu lấy lề quê hồn cố thổ/ Người trăm năm còn giữ chút trăm năm/ Lạy trời đừng mưa ướt chỗ mẹ nằm/ Nơi núm ruột Thạch Bàn cao sừng sững/ Nơi đạo lý dày công gầy dựng/ Mẹ đâu cần biết chữ, mẹ quê ơi !” ( Mẹ quê ơi!). Quê hương của ca dao và tình yêu sâu đằm, nồng nàn : “ Khoả tình dậy sóng xưa sau/ Gòn rơi lớp lớp trắng đầu mẹ ơi/ Đòn cong gióng đứt về trời/ Còn ai vỗ chiếu khóc người tri âm” ( Nghe rao xôi cúc nhớ mẹ ngày xưa); “  Chút gì cũng chút nợ quê/ Cho đi tất cả nhận về tay không/ Lại nghe bão rớt, xé lòng/Tình quê đứng giữa hai dòng lũ trôi”  ( Chia bão số 9 với mẹ Quảng Nam).

 

  Đọc đến đây tôi lại nhớ một số nhà thơ thế hệ đàn anh cũng đã có những bài thơ viết về quê hương rất hay và gợi, tạo nên một bề dày thơ ca về vùng đất Quảng Nam, mà điều ấy thật  quí giá, đáng trân trọng. Như nhà thơ Phụng Lam chẳng hạn :

              gối trăng

               ngủ với ao làng

               gác tay chạm sóng đò ngang nhớ mùa

               nước xuôi sông ngậm ngùi xưa

               bến khua lặng vắng-sương thưa hai bờ

               gối đồng

               ngủ với câu thơ

               lời ru nội vẫn ầu ơ vọng nguồn

                               (giấc mơ ao làng)

Hay nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, đã có những câu thơ được nhiều anh em văn nghệ đọc thuộc lòng với những câu thơ anh viết về quê hương Đại Hồng, Đại Lộc của anh như sau ; “: Làng tôi ở ven sông/ Bốn bên núi bốn bề yên ắng/ Chưa hiểu hết mưa nguồn/ Tôi đi về phía biển/ Cái làng ấy ra đi cùng tôi/Mà tôi nào hay biết/ Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết/Con sông quê bóng núi cứ chập chờn/Xưa tôi sống trong làng/Giờ làng sống trong tôi”( Làng).

 

 Chỉ vỏn vẹn 40 bài thơ được in ấn trang trọng, nhưng rất nhiều xúc cảm, rất nhiều câu chuyện nhân tình thế thái, rất nhiều vấn đề khác nữa chứ không chỉ là những vấn đề mà bài viết này đề cập. Cũng có nhiều sự kiện đã cũ hoặc nhiều sự kiện mới mà tác giả gửi gắm niềm tâm sự, cũng có nhiều thi pháp khác nhau ở những trạng huống khác nhau cần phải thể hiện. Nhưng tựu trung, Tranh lắp ghép bằng chữ là tập thơ giản dị, dễ đọc, dễ hiểu bởi tác giả dường như cố ý không quá cầu kỳ về sự độc đáo ngôn ngữ, mà chủ yếu dùng phương ngữ đất Quảng, không quá câu nệ về cái đẹp kín đáo, lạ lẫm của tứ thơ mà bỏ quên nội dung tư tưởng. Để kết thúc bài viết này, tôi xin gửi đến bạn đọc bốn câu thơ của  Nguyễn Tam Phù Sa sau như một lời cảm ơn và chia sẻ : “ Tưởng dâu bể bầy đàn quen hoá lạ

                                   Người trung kiên chung giục kẻ bạc tình

                                   Ta ngạo nghễ đội trời đi như thác

                                    Luân lạc lòng quê đỏ tựa son”

                                               ( Qua Câu Lâu bỗng nhớ…)

 

 

               HUỲNH MNH TÂM

              GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ, Đại Lộc, Quảng Nam

 

Lên sóng lúc 08:39 ngày 17.06.2012