Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN hay TRÍ QUANG SÁM HỐI ?

                                                                                               LÊ MINH KHÔI
 
 

TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN hay TRÍ QUANG SÁM HỐI

 

Cuối năm 2011 nhà xuất bản Tổng Hợp Thành Phố Saigon vừa cho ấn hành 3000 cuốn TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN. Ông Trần Bỉnh Nam, một cây viết quen thuộc trong làng báo hải ngoại, đã có trong tay quyển sách mang số 2555, và đã viết một bài nói về nội dung quyển sách của một kẻ từng được báo chí Mỹ tặng danh hiệu “Người làm rung chuyển nước Mỹ”

 

                           Thích Trí Quang - năm 1960 . Ảnh do Tạp chí LIFE chụp 

 

NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN

 

Nội dung cuốn sách, theo ông Trần Bỉnh Nam ghi lại, thì Trí Quang sinh năm 1922 tại làng Diêm Ðiền, tỉnh Quảng Bình, tên khai sinh Phạm Quang, xuất gia năm 1938. Ông là con thứ tư trong gia đình có 6 anh em trai, hai anh đầu khác mẹ. Năm lên 6 học chữ Hán và tiếp tục học hết chương trình Tiểu Học của sở Học Chánh Ðông Dương. Năm 1932 Bác Sĩ Lê Ðình Thám thành lập Tổng Hội Phật Giáo Miền Trung. Năm1938 ông xuất gia vào Huế tu học 6 năm và tốt nghiệp năm 1944.  Mùa hè năm 1946 ông được mời ra Hà Nội thành lập Phật Học Viện tại chùa Quán Sứ. Cuối năm 1946 trở về Quảng Bình rồi về Huế tu học. Năm 1947 Pháp chiếm Quảng Bình, Trí Quang cùng mẹ lên vùng Mãi Ðắng, vào chiến khu phụ trách Quận Hội của Liên Việt. Sau đó vì mẹ bị bệnh nặng ông được rời bỏ cơ sở về quê nhờ sự can thiệp của một Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội Tự Vệ hoạt động trong thành phố tên là Thế. Năm 1950 ông Trí Quang vào sống ở Huế tu tập trước tác và dịch kinh sách. Cùng vào năm 1950 sau khi Hòa Thượng Tố Liên đi dự Liên Minh Hữu Nghị Phật Tử Thế Giới tại Tích Lan về liền vận động thành lập Chi Bộ Việt Nam, vì vậy ông đề nghị thành lập một Tổng Giáo Hội Phật Tử Việt Nam để làm việc song hành. Ðại Hội này được triệu tập tại chùa Từ Ðàm Huế và  suy cử HT Thích Tịnh Khiết làm Hội Chủ, nhưng khi trình báo với chính quyền thì ông Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ yêu cầu THPGVN áp dụng Dụ số 10 do Quốc Trưởng Bảo Ðại ban hành năm 1950. Ðạo Dụ này xem các tổ chức tôn giáo là Hiệp Hội như các hội Tiểu Thương hội Ðá Bóng, hội Ái Hữu…ngoại trừ Ðiều 44 của Ðạo Dụ quy định: Chế độ đặc biệt dành cho các Hội Truyền Giáo Thiên Chú và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau. Tiếp theo Tòa Ðại biểu Miền Trung lệnh cho Tổng Hội hạ bảng trụ sở, nộp khuôn dấu, bắt giam ông Tráng Ðinh về tội thành lập THPGVN một cách bất hợp pháp.

 

- Năm 1954 là thời kỳ phân chia đất nước, ông Trí Quang ghi trong tự truyện:“Ðây là thời điểm mà tổ quốc phân chia Nam Bắc. Tôi nghĩ tôi nên đứng ở cương vị thuần túy Phật Giáo không nên có ý kiến về việc đời quan trọng. Chỉ đánh dấu tâm tư bằng dấu ấn mà thôi”. Năm 1956 được tin mẹ bị đấu tố ở Quảng Bình, Trí Quang ghi: “Mẹ khốn khổ của tôi bị đấu tố. Tôi không đủ can đảm nhớ lại cho hết, ghi lại cho đủ, chỉ đánh dấu vài dấu than mà thôi”. Sau đó Trí Quang vào Nha Trang 1956-1960. Năm 1963 xảy ra vụ cấm treo cờ Phật Giáo, vì đang giữ chức Tổng Trị Sự Hội Phật Giáo Trung Phần nên trở thành nhân vật chính trong cuộc “Vận Ðộng 1963 của Phật Giáo”

 

Theo Trí Quang Tự Truyện, hàng năm những ngày Lễ Phật Ðản thành phố Huế rực cờ Phật Giáo, buổi sáng làm lễ tại chùa Từ Ðàm, buổi chiều phát thanh lại trên Ðài Phát Thanh Huế. Ông Ngô Ðình Cẩn là người luôn luôn khuyến khích sinh hoạt tôn giáo hài hòa, nhưng năm 1963 ông Ngô Ðình Thục muốn Huế treo ít cờ Phật Giáo hơn vì ông đang vận động để trở thành Hồng Y. Ý muốn của ông Thục thành lệnh của chính quyền. Ông Nguyễn Văn Ðẳng truyền lệnh này nhưng Trí Quang từ chối. Ngày 14 tháng 4 Âm Lịch, ông Cố Vấn Ngô Ðình Cẩn mời họp trấn an và cho biết sẽ can thiệp để Saigon bỏ lệnh cấm treo cờ, nhưng sự can thiệp không có kết quả. Buổi chiều 15/4 khi không nghe thấy Ðài Phát Thanh Huế phát thanh lại buổi lễ, Phật Tử kéo đến phản đối. Trong khi các ông Thị Trưởng, Giám Ðốc Ðài Phát Thanh và ông Trí Quang đang trao đổi ý kiến thì ngoài sân xe tăng bảo vệ đài cán vào người biểu tình và có tiếng nổ, một số em Phật Tử bị giết. Ngày 17/4 Trí Quang và ban Tổng Trị Sự quyết định chọn ngày 21/4 làm ngày lễ Thất Tuần, và Trí Quang viết điện văn gữi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc gồm 3 điểm: (1) Chính quyền cản trở Lễ Phật Ðản, (2) Chính quyền triệt cờ Phật Giáo Thế Giới. (3) Chính quyền khủng bố trắng sự phản kháng bất bạo động của Phật Tử. Sau đó là các vụ tự thiêu và biểu tình.

 

Tình hình mỗi lúc một thêm phức tạp nên chính quyền đã cấp phương tiện cho Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Thích Thiện Minh và Trí Quang được bay vào Saigon họp hội nghị hòa giải. Một bản Thông Cáo Chung được ký kết ngày 16/6 giữa Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ và Ðại Diện Phật Giáo giải quyết hầu hết các nguyện vọng của Phật Giáo. Tổng Thống Diệm bút phê chấp thuận: Sau hiến pháp còn có tôi”, nhưng tại các tỉnh vẫn có những cuộc bắt bớ đàn áp, thêm vào đó là lời tuyên bố của bà Ngô Ðình Nhu kết án Phật Tử “nướng” HT Quảng Ðức làm cho tình hình căng thẳng. Trí Quang xác nhận lúc đó ông nghĩ rằng nếu bị bắt ông sẽ bị thủ tiêu nên “không có cách nào khác hơn là đến tòa đại sứ Mỹ” và nói rằng: “Tôi vào đây còn muốn nhìn thấy người Mỹ giải quyết vấn đề mà người Mỹ có trách nhiệm, nhưng không nên đảo chánh nữa.”

 

Về vụ Phật Giáo Miền Trung ông Trí Quang chỉ đề cập ngắn gọn trong 17 trang sau cùng.Bài viết của ông Trần Bỉnh Nam cho biết Trí Quang không đề cập tới tên tuổi một tướng nào cả và cho rằng do cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến mà Phật Giáo trở nên xung khắc với chính quyền và cho là Chữa lửa mà bị cho là đốt nhà, mong quần chúng có cơ cấu sinh hoạt chính trị, Phật Giáo có thể rút mình ra nhưng rồi họa hổ bất thành phản loại cẩu, vẽ cọp thành chó. Theo ông Trí Quang, bản chất vụ việc là các Tướng, tướng nào “cũng thấy mình có thể làm nên chuyện” và Phật Giáo bị cuốn hút vào cuộc “là vì cái tính giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha, nên bị lợi dụng”

 

Về vụ bàn thờ Phật xuống đường ông Trí Quang viết: Sự thật là một đơn vị thiết giáp được gữi từ Quảng Trị vào. Ðến cầu An Hòa, vị sĩ quan chỉ huy có sáng kiến bảo Phật Tử mang bàn thờ ra đường để ông báo cáo cấp trên không tiến quân được. Trong một thời gian ngắn bàn thờ xuống đầy thành phố. Phật tử đến hỏi ý kiến, Trí Quang viết: “Tôi hỏi ông Thiện Siêu đang có mặt. Ông nói, thụ động chứ biết làm sao. Thực tế tôi cũng không thể bảo ngưng được nữa. Bàn Phật đã có sâu trong thành phố rồi. Chưa bao giờ, mà bây giờ, tôi phải xúc phạm sự tôn nghiêm đến mức độ này”. Cuối tháng năm 1966 Trí Quang tuyệt thực khi quân chính phủ tiến vào thành phố. Ông bị bắt và bị đưa vào Saigon. Tại đây ông tuyệt thực 100 này và theo lời viết trong tự truyện là “Âm mưu rất tồi cũng được dùng tới”khi một nữ giáo sư người Âu đang dạy học tại Ấn Ðộ nói thần linh bảo cô đến làm phép săn sóc thầy.

 

Nhà báo Trần Bỉnh Nam sau khi đọc hết TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN đặt câu hỏi: Muốn hay không muốn thầy Trí Quang là một nhân vật lịch sử, gần như đi vào huyền thoại. Về phương diện văn từ, ngoài việc Tự Truyện bị ảnh hưởng văn của kinh điển nhà Phật, lối hành văn cũng không được rõ ràng khúc chiết. Qua Tự Truyện, giai đoạn vận động đòi bình đẳng tôn giáo trước và trong năm 1963 Thầy viết rõ nhiều chi tiết nhưng giai đoạn từ 1963-1975 Thầy viết rất ít về vai trò của Thầy. Những nét chấm phá của Thầy liên quan đến giai đoạn căng thẳng Miền Trung trong năm 1966 quá đơn sơ. Nhưng không thể đơn giản “là vì cái tính giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha, nên bị lợi dụng”.

Tôi tiếc qua Tự Truyện thầy Trí Quang đã không nói hết. Tôi không hiểu tại sao lại không nói hết. Con chim sắp lìa đời không kêu thì thôi, nếu kêu thì tiếng kêu thường thống thiết! Kết thúc tự truyện Thầy viết: “Tôi không biết gì, không có ý gì nên cuộc đời tôi không vẫn hoàn không” là một tiếng kêu chân thật cho mọi cuộc đời kể cả cuộc đời của các vĩ nhân. Ðúng sai của Thầy không làm cho Thầy tốt hơn hay xấu hơn nếu trong mọi tình huống Thầy đã hành xử bằng cái tâm trong sáng của mình. Khi thầy lý giải tự truyện này “không thể không có nên phải viết phải in”  thì tôi (Trần Bỉnh Nam) tự hỏi: Thầy đã nói gì đâu mà “không thể không có nên phải viết phải in” 

 

NHỮNG DỮ KIỆN MÙ MỜ CẦN ÐƯỢC SÁNG TỎ

 

Phần đầu là những nét chính về cuộc đời của Trí Quang do chính ông ghi lại. Phần hai là những suy tư của ông Trần Bỉnh Nam. Tuy nhiên, theo lối viết ông Trần Bỉnh Nam, chúng ta đều thấy cả hai đã không nói hết mọi chuyện mà còn tạo ra một số điểm mù mờ không thể không đặt câu hỏi. Những điều sau đây là một số câu hỏi tuần tự lần theo bài viết của ông Trần Bỉnh Nam

 

- Theo như Trí Quang Tự Truyện, Trí Quang sinh năm 1922, mùa hè năm 1946 được mời ra Hà Nội thành lập Phật Học Viện tại chùa Quán Sứ. Như vậy chỉ mới 24 tuổi đầu, chưa được tước vị Ðại Ðức, không biết Trí Quang tài cán cỡ nào hay là vì Phật Giáo Hà Nội và Miền Bắc hết người nên mới phải cung thỉnh một tăng sĩ non trẻ như thế ra tận Hà Nội thành lập Hội Phật Giáo?

 

- Nói về Ðạo Dụ Số 10, Trí Quang cho biết: Năm 1950 sau khi Hòa Thượng Tố Liên đi dự Liên Minh Hữu Nghị Phật Tử Thế Giới tại Tích Lan về liền vận động thành lập Chi Bộ Việt Nam, vì vậy ông đề nghị thành lập một Tổng Giáo Hội Phật Tử Việt Nam để làm việc song hành. Ðại Hội này được triệu tập tại chùa Từ Ðàm Huế và  suy cử HT Thích Tịnh Khiết làm Hội Chủ, nhưng khi trình báo với chính quyền thì ông Tổng Trưởng Bộ Nội Vụ yêu cầu THPGVN áp dụng Dụ số 10 do Quốc Trưởng Bảo Ðại ban hành năm 1950. Ðạo Dụ này xem các tổ chức tôn giáo là Hiệp Hội như các hội Tiểu Thương hội Ðá Bóng, hội Ái Hữu….ngoại trừ Ðiều 44 của Ðạo Dụ quy định: Chế độ đặc biệt dành cho các Hội Truyền Giáo Thiên Chú và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau. Tiếp theo Tòa Ðại biểu Miền Trung lệnh cho Tổng Hội hạ bảng trụ sở, nộp khuôn dấu, bắt giam ông Tráng Ðinh về tội thành lập THPGVN một cách bất hợp pháp.

 

Như vậy Ðạo Dụ này đã có trước khi ông Ngô Ðình Diệm về nước chấp chánh. Tại sao ông Trí Quang và phe nhóm không xuống đường phản đối những bất công vô lý này vào các năm 1950, 1951 mà để mãi tận đến năm 1963 mới xuống đường phản đối? Thêm một dấu hỏi nữa là trong thời gian làm Tổng Thống ông Ngô Ðình Diệm có ban hành một quy chế nào ưu đãi tôn giáo này hơn các tôn giáo khác không? Nếu không thì rõ ràng Ðạo Dụ Số 10 chỉ là cái cớ cho Trí Quang tạo loạn lật đổ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa. Những tài liệu giải mã cho biết vào thời điểm 1963 Cộng Sản Hà Nội đang dồn nổ lực tiến hành cuộc xâm chiếm Miền Nam và  cùng lúc đó Mỹ muốn đem quân vào Việt Nam nhưng ông Ngô Ðình Diệm quyết liệt chống đối. Như vậy, việc lật đổ ông Ngô Ðình Diệm là vì pháp nạn hay là vì một lý do nào khác? Thực sự Trí Quang làm việc cho ai?

 

- Nhà báo Trần Bỉnh Nam cho rằng: giai đoạn vận động đòi bình đẳng tôn giáo trước và trong năm 1963 Trí Quang viết rõ nhiều chi tiết nhưng giai đoạn từ 1963-1975 Trí Quang viết rất ít về vai trò của mình. Những nét chấm phá của Trí Quang liên quan đến giai đoạn căng thẳng Miền Trung trong năm 1966 quá đơn sơ, nhưng không thể đơn giản “là vì cái tính giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha, nên bị lợi dụng”.

 

Chúng ta hoàn toàn đồng ý về nhận xét của cây bút Trần Bỉnh Nam và có thể suy diễn không sợ sai lệch rằng công việc của Trí Quang được giao phó đã chấm dứt sau khi chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa bị lật đổ. Có điều Trí Quang không hiểu mà lại còn nuôi ảo tưởng là mình có thể làm nên chuyện lớn nên tiếp tục nguậy phá, đưa đến kết quả thân bại danh liệt.

 

- Trong Trí Quang Tự Truyện ông Trí Quang chạy tội trong việc đưa bàn thờ Phật xuống đường năm 1966 rất ngớ ngẩn: Một đơn vị thiết giáp được gữi từ Quảng Trị vào. Ðến cầu An Hòa, vị sĩ quan chỉ huy có sáng kiến bảo Phật Tử mang bàn thờ ra đường để ông báo cáo cấp trên không tiến quân được. Trong một thời gian ngắn bàn thờ xuống đầy thành phố. Phật tử đến hỏi ý kiến, Trí Quang viết: “Tôi hỏi ông Thiện Siêu đang có mặt. Ông nói, thụ động chứ biết làm sao. Thực tế tôi cũng không thể bảo ngưng được nữa. Bàn Phật đã có sâu trong thành phố rồi. Chưa bao giờ, mà bây giờ, tôi phải xúc phạm sự tôn nghiêm đến mức độ này”.

 

Phải nói rằng vào thời điểm này trong tay của Trí Quang vẫn còn đầy quyền lực tại Miền Trung, không ai có thể mang bàn thờ Phật xuống đường mà không có lệnh của những người nhân danh lãnh đạo Phật Giáo. Trong cuộc tranh hùng một còn một mất này Trí Quang đã chơi lá bài tháu cáy cuối cùng của canh bạc. Không ngờ đây lại là thất bại thê thảm chôn vùi luôn tên tuổi và cuộc đời của ông ta.

 

- Việc báo chí Mỹ tặng Trí Quang danh hiệu “người làm rung chuyển nước Mỹ” chỉ là một thứ thuốc nước của chủ làm cho con gà thêm say máu. Nếu Trí Quang thực sự là “người làm rung chuyển nước Mỹ” thì tại sao vào năm 1966 lại bị bắt, bị nhốt, và phải chịu im lặng cho đến cuối cuộc đời. 

 

Kết thúc bài viết, nhà báo Trần Bỉnh Nam ngơ ngác: Tôi tiếc qua Tự Truyện thầy Trí Quang đã không nói hết. Tôi không hiểu tại sao lại không nói hết. Con chim sắp lìa đời không kêu thì thôi, nếu kêu thì tiếng kêu thường thống thiết! Kết thúc tự truyện Thầy viết: “Tôi không biết gì, không có ý gì nên cuộc đời tôi không vẫn hoàn không” là một tiếng kêu chân thật cho mọi cuộc đời kể cả cuộc đời của các vĩ nhân. Ðúng sai của Thầy không làm cho Thầy tốt hơn hay xấu hơn nếu trong mọi tình huống Thầy đã hành xử bằng cái tâm trong sáng của mình. Khi thầy lý giải tự truyện này “không thể không có nên phải viết phải in”  thì tôi (Trần Bỉnh Nam) tự hỏi: Thầy đã nói gì đâu mà “không thể không có nên phải viết phải in” 

 

Tất cả mọi sự việc diễn ra cho thấy Trí Quang không phải là một nhà tu đúng nghĩa. Trí Quang chỉ là một kẻ khoác áo nhà tu, thừa nước đục thả câu, làm bất cứ việc gì có lợi cho mình. Có thể Trí Quang làm việc cho Mỹ nên năm 1963 Mỹ đưa Trí Quang vào Tòa Ðại Sứ trú ẩn. Về sau không được như ý nên Trí Quang có thể dùng vụ rối loạn Miền Trung để tìm chỗ đứng với Hà Nội. Chính vì lấp lửng cẵng giữa như thế nên rút cuộc xôi hỏng bỏng không. Miền Nam và Mỹ thì cho Trí Quang là cộng sản nằm vùng hay tay sai của Hà Nội còn Hà Nội thì nghĩ rằng Trí Quang làm việc cho CIA nên sau 1975 Trí Quang không được tin dùng. Ngay như Phạm Xuân Ẩn hay Vũ Ngọc Nhạ là cộng sản thứ thiệt từ trong trứng nước còn bị vắt chanh bỏ vỏ huống hồ chi một kẻ lấp lững cẵng giữa khó hiểu. Cả cuộc đời của Trí Quang là một lấp lửng khó hiểu. Ðã thế ông lại từng tạo cho mình một chỗ đứng mà trong chế độ toàn trị của Cộng Sản chúng không bao giờ chấp nhận bất cứ một ai có thể ngóc đầu lên ngang bằng với chúng.

 

Một điều không thể bỏ sót nữa là trong khi viết Trí Quang Tự Truyện ông Trí Quang đã như một con hổ nhớ rừng luyến tiếc một thời ngang dọc. Nói một cách đầy đủ hơn trong một ý nghĩa khác là ông thực sự luyến tiếc chế độ tự do của Miền Nam. Khi ông ghi nhận “Ông Ngô Ðình Cẩn là người luôn luôn khuyến khích sinh hoạt tôn giáo hài hòa” hay ông phân trần trong vụ Biến Loạn Miền Trung “là vì cái tính giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha, nên bị lợi dụng”  “họa hổ bất thành phản loại cẩu, vẽ cọp thành chó” ta nghe rõ nỗi lòng của ông tâm sự là không muốn sự việc xảy ra như thế nhưng lại đã xảy ra như thế.

 

Có lẽ vào lúc cuối đời khi ngồi nghĩ đến cái chết oan ức của hơn năm ngàn người dân vô tội trong vụ Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, nhớ lại thời oanh liệt muốn nói ra mà nói không được, muốn viết mà viết không thể viết hết nên đành mượn cớ tuổi già sức yếu: “Tôi không biết gì, không có ý gì nên cuộc đời tôi không vẫn hoàn không”. Phải chăng ông đã thấm hiểu triết lý của nhà Phật hay đây chính là một lời sám hối chân tình?

 

Cuối cùng, như mọi người đều biết là dưới chế độ Cộng sản Hà Nội tất cả cơ quan ngôn luận và công nghiệp in ấn đều do nhà nước điều hành dưới sự chỉ đạo của Ban Văn Hóa Tư Tưởng. Việc nhà xuất bản Tổng Hợp Thành Phố Saigon cho ấn hành 3000 cuốn TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN cũng là một lời giải đáp về huyền thoại Trí Quang.

 

LÊ MINH KHÔI

NGUỒN: TuoitreViet hai ngoai / 04.2012