Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

TRƯƠNG NAM HƯƠNG - Người mang Hà Nội...

 
 
Trương Nam Hương – người mang Hà Nội đi theo suốt hành trình t
                                              
                                                                          HUỆ TRIỆU
 
Tôi chắc khi viết về Hà Nội, Trương Nam Hương luôn có tâm thế thoải mái, tự tin – tâm thế của
con người biết mình có một “vốn liếng” dày dặn, không chỉ những hiểu biết mà còn là xúc cảm về Hà Nội. “Vốn liếng” dày dặn ấy đã giúp tác giả Khúc hát người xa xứ, Viết tặng những mùa xưa, Ngoảnh lại tháng năm, Ban mai xanh, Ra ngoài ngàn năm … có cơ hội tặng cho cuộc đời ngót 100 bài thơ đặc sắc về Hà Nội.
 
Mang Hà Nội theo suốt hành trình thơ, cũng có nghĩa là mang Hà Nội theo suốt những thăng trầm của đời mình. Mười tập thơ của Trương Nam Hương, chưa tập nào thiếu vắng Hà Nội, thiếu vắng những khắc khoải về Hà Nội. Xa Hà Nội từ năm 12 tuổi, cũng tức là xa những kỷ niệm ấu thơ hạnh phúc nhất được ở bên mẹ, bên bà… Dễ hiểu vì sao, ký ức tuổi thơ Hà Nội lại trở thành nơi nương tựa tâm hồn nhà thơ trong suốt cuộc đời.
 
Trong một lần trả lời phỏng vấn, Trương Nam Hương bộc bạch: “Mỗi lần viết về Hà Nội là một lần tôi được “truy lĩnh” những năm tháng hồn nhiên trong trẻo của đời mình…”. Mới nghe thấy vui vui, ngồ ngộ, nhưng ngẫm một chút thôi, tâm sự của nhà thơ dễ làm ta cay sè khóe mắt, bởi lẽ song hành với “truy lĩnh” niềm vui cũng là gặt hái về bao nhiêu tiếc nuối ! Có thể nhận ra sự đan xen hai nét tâm trạng ấy trong những câu thơ đầy ắp hương vị, sắc màu Hà Nội:
 
Hà Nội trong anh là quả sấu hườm
Lăn chua ngọt dọc thời bé dại
Que kem cầm mát lạnh gió Hồ Gươm
(Ký ức Hà Nội)
 
Quả bàng, quả sấu, kẹo vừng, kẹo lạc, viên bi đất, pháo chuột pháo dây, cuộn sâu kèn… tuổi lên mười từng nao nức có mặt trong Khúc hát người xa xứ (tập thơ đầu của Trương Nam Hương xuất bản năm 1990), đến giờ vẫn xôn xao như thế trong Ra ngoài ngàn năm (xuất bản năm 2008)… Có một thứ lôgic đời sống, một mối quan hệ gắn bó giữa hiện tại - ký ức ở đây chăng ? Bên cạnh “những năm tháng hồn nhiên trong trẻo” ấy là một mảng hiện tại cũng không ngừng xôn xao trong tâm trạng của kẻ tha hương :
 
Chao ôi trời lẻ cánh diều
Gió đâu thổi quắt một chiều xa quê
(Tha hương)
 
Giữa “chuyện áo cơm mệt nhoài” với bao nhiêu mưa nắng đời thường, là những thoáng se lòng, thảng thốt :
 
Con xa mẹ xa quê biền biệt thế
Hỡi hoa xoan ký ức tuổi lên mười
(Với sông Hồng)
 
Nỗi niềm “xa mẹ xa quê biền biệt” ấy ám ảnh, đan vào hiện tại, như nhắc nhở con người về một “chút còn” quý giá trong cuộc sống. Ở nhiều bài thơ, Trương Nam Hương đã nói hộ tâm tình của biết bao đứa con xa xứ, xa Hà Nội :
 
Càng nhớ mẹ những ngày giáp Tết
Khói mùa xưa đọng mắt cay xè
Con ra phố một mình đón rét
Kiếm một niềm an ủi xa quê
(Nhớ mẹ, chiều cuối năm)
 
Xa Hà Nội từ lâu lắm, nhiều thứ đối với nhà thơ có lẽ đã nhòe mờ, nhưng có những kỷ niệm lại
trở nên đậm màu hơn, quý giá thiêng liêng hơn, hay nói đúng hơn là được chính hiện tại “đẩy” lên thành quý giá thiêng liêng hơn. Có cảm giác Hà Nội với những năm tháng xanh ký ức ấy là một “cõi đi về” của nhà thơ, là điểm tựa vừa mơ hồ vừa bền vững cho những gì chống chếnh trong hiện tại.
 
Do vậy, không có gì là mâu thuẫn, vì cả khi tự dối lòng “Anh giờ xếp những giấc mơ hoa sữa”, vẫn không nguôi da diết, hướng về trọn vẹn những “Búp bàng xanh mùa Hạ, đỏ mùa Đông”, “góc phố buồn”, và những òa vỡ “Hà Nội đây rồi” để “nhớ mong bước ríu ngày về”… Sống với thơ, với cuộc đời, là phải sống hết mình, không thể “Sống nửa vời, dửng dưng” như nhà thơ từng tâm niệm. Hành trình thơ Trương Nam Hương đầy ắp những những thốt gọi tâm trạng thành thực, những buồn vui “đến tận cùng” đó. Có phải vì thế mà Hà Nội trong hành trình thơ anh có một chiều sâu, một “gương mặt” riêng, gắn với những ưu tư của một đời người.
 
Viết về Hà Nội “thương khó, đẹp và buồn”, những dòng thơ Trương Nam Hương còn làm nao lòng người đọc vì “Những đêm mưa Hà Nội đèn dầu”. Thành phố tuổi thơ là bài thơ tập hợp nhiều ký ức cảm động về Hà Nội một thời gian khó. Cũng lại bắt đầu bằng những hình ảnh gợi không gian rất tuổi thơ Hà Nội : “Những quả sấu giòn rơi trưa tháng sáu”, “Suối ve trào vòm phượng-nắp vung sôi”, nhà thơ dẫn người đọc đến không gian HàNội thời chiến tranh bom đạn :
 
 
Nhớ Hà Nội những đêm báo động
Mặc bom rung dế vẫn gáy trong hầm
Hoa sữa còn thơm, biết mình còn sống
Mẹ khóc thầm trong giá rét căm căm
 
Hay trong bài Tuổi thơ :
 
Thương mẹ thương bà những năm chiến tranh
Tất tả gánh gồng xuôi ngược
Cháu con một đầu, nồi chảo một đầu
Con ngồi hát giữa chập chèng xoong chậu

 
Không gian Hà Nội thời bom đạn ấy còn nhiều lần trở lại trong thơ anh. Gần đây, nhiều độc giả đã kịp ghi lại ấn tượng về một thời Hà Nội thật đẹp, thật “thảo thơm” mà chất ngất “buốt đau” với “Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang” (trích Hà Nội một thời - bài thơ đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ và nhạc phổ thơ “Thăng Long - Hà Nội trong trái tim tôi” được tổ chức đầu năm 2010). Tái hiện một lúc nhiều không gian Hà Nội, bài thơ khiến cho những người yêu và gắn bó với Hà Nội không khỏi vừa tự hào, vừa cảm động bùi ngùi. Ta hãy cùng đọc lại một đoạn :
 
Một thời Hà Nội lung liêng
Sương cong mái phố, khói nghiêng mặt hồ
Một thời Hà Nội mộng mơ
Đắm mê hương sữa đến giờ chưa tan
Một thời Hà Nội hiên ngang
Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi
Một thời Hà Nội cùng tôi
Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường…
 
Thật khó để thống kê đầy đủ những không gian Hà Nội trong thơ Trương Nam Hương. Nhưng
nếu ai đó công phu thử làm một cuộc dạo chơi dọc hành trình thơ anh có lẽ sẽ nhận ra điều này : đó là cái nhìn thật trong trẻo, trẻ trung, lãng mạn về Hà Nội. Hình như chàng thi sĩ gắn bó cả tuổi thơ mình ở đất Hà Thành đã nuôi dưỡng tình yêu với Hà Nội bằng chính những nét trẻ trung, lãng mạn ấy. Có cảm giác như Trương Nam Hương lúc nào cũng ý thức gom về những “Mưa Hồ Tây – nắng Hồ Gươm”, “Sương đẫm nhòa Cổ Ngư”, “Lộc đào Quảng Bá”, “Hè phố Khâm Thiên vị bàng chát mãi”, “Tiếng con gái Ngọc Hà đáo để”, “Hương hoa sữa thơm xanh chiều heo may”, “tiếng sâm cầm Hồ Tây”, “lộc vừng lấm tấm”, “kẹo lạc”, “kẹo vừng”… để kết dệt thành một bức tranh thơ về Hà Nội lãng mạn say đắm ngọt ngào :
 
Em trẻ quá trước Thăng Long nghìn tuổi
Liễu Hồ Gươm sớm ấy rủ ta về
Hôn lên rét khẽ chạm bờ vai gió
Giọt mưa phùn nhấm nháp tuổi so le
(Em với Hồ Gươm)
 
Cái nhìn trẻ trung ấy còn khiến nhà thơ như bao dung hơn trước những thay đổi khó tránh khỏi của nếp sống Hà Nội hiện đại. Trước “Áo lưng lửng lẳn eo mùa/ Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây”, thay cho cái nhíu mày là nụ cười hóm hỉnh :
 
Váy người ngắn đến mê ly
Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài
Áo sương cúc gió lơi cài
Gặp Hà Nội mốt ra ngoài ngàn năm
(Viết ở Nghi Tàm)
 
Cạnh bức tranh thơ tươi tắn trẻ trung về Hà Nội, ta còn gặp những trang nhật ký –thơ chứa đựng tiếc nuối về ký ức tình yêu đã xa.Trở về sau “diệu vợi tháng năm xanh”, con người thơ Hà Nội đa tình này cứ như bị vây bọc giữa làn hương ký ức tình yêu, rồi chợt nhận ra “Thời hai ta nông nổi đã qua rồi”. Sương khói Hồ Tây giờ gợi nhắc :
 
Hư ảo Tây Hồ sương buổi ấy
Như mắt em buồn hôm tiễn vậy
Sâm cầm thót giọng hót về đâu
(Ký ức)
 
Cầu Thê Húc, gốc si già, hoa sữa đường Nguyễn Du… và đặc biệt là không gian sương khói huyền ảo Hồ Tây như nơi nương náu yên bình cho những kỷ niệm đẹp và buồn về tình yêu :
 
Lên cầu Thê Húc đi em
Nhớ thăm thẳm nhớ một đêm gió lùa
(Đêm giao thừa)
 
Và cuối cùng, trong hành trình thơ, còn cả những trăn trở suy tư của một con người nặng lòng với Hà Nội, khi “Ngước lên phố cổ thương màu rêu phong”, thấy “Tháp Bút đã sơn, người định tát hồ”, mà âu lo “Lá sen còn gói cốm làng Vòng”…Có phải đó là những băn khoăn trăn trở khi nhận ra Hà Nội “ba mươi sáu phố” đang “mỏng” dần đi trong cuộc sống hiện đại ? đúng như tâm sự của nhà thơ : “Hà Nội bây giờ đông hơn, hiện đại hơn, ồn ã hơn. Liệu sự phát triển của kinh tế, đô thị có làm tan loãng đi không gian rất đặc thù của Hà Nội - nơi lắng đọng những giá trị của những vỉa tầng lịch sử, văn hóa, tâm linh nghìn đời của dân tộc”…Đó là băn khoăn, là trách nhiệm trong sâu thẳm tâm hồn của con người luôn vẹn nguyên lòng mình với Hà Nội, với
cuộc đời.
   10.2010
HUỆ TRIỆU