Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

TRƯƠNG NAM HƯƠNG, NHỮNG CÂU THƠ ĐI... LẠC - Lê Vũ

 
 
Nhà thơ Trương Nam Hương, sinh năm 1963, gốc Huế, Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam với 10 tập thơ đã xuất bản và nhiều giải thưởng văn học trong gần 30 năm cầm bút. Anh hiện là Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM, Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam.

 

 

TRƯƠNG NAM HƯƠNG, NHỮNG CÂU THƠ …ĐI LẠC

 

 

Hình như có điều gì đang lẫn lạc/Đến cười khóc sao lòng giờ cũng khác

Cả con đường quen thuộc –khác ngày xưa/ Hồn lau bạc cũng trở mình thao thức

Nghe xương cốt của ngàn năm vẫn nhức/ Trắng im lìm như cát trắng, hư không!

                                                                                                                 ( Tạp cảm)

 

Trương Nam Hương đang vẽ mình trong một hoài nghi, hoài nghi cả tiếng khóc cười, hoài nghi con đường, cả lau bạc thao thức và xương cốt ngàn năm. Đó là sự hoài nghi về sự hiện tồn, thực giả, có không. Lau xanh cũng bạc và tóc nhà thơ cũng lấm tấm muối sương. Sắp bước vào tuổi “ tri thiên mệnh”, phải chăng là đã biết hết mệnh trời?

Không, người nghệ sĩ chẳng bao giờ có tuổi và Trương Nam Hương chưa bao giờ già khi mà những câu thơ tình vẫn ướt rượt mắt em lá răm chiều loang nắng sông Cầu:

 

Cỏ níu chân mùa sông thiếp ngủ/ Em tiễn cái nhìn đau cả gió

Chiều chớp đầy anh …mắt lá răm (Lỗi hẹn sông Cầu)

 

Thi sĩ, trước hết là thi sĩ của tình yêu. Và những câu tình của nhà thơ  TNH được nhắc nhớ trên môi người vì đăm đắm, trong veo, nồng nàn, mà lạ lẫm.

Dây dưa nắng bên hồ không nỡ tắt

Người kiêu sa vạt áo quét ngang chiều

Mắt em liếc thơ tình anh lạc mất

Rồi ”Váy người ngắn đến mê li/ Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài/ Áo sương cúc gió lơi cài”   (Viết ở Nghi Tàm)

 

 Thế đó, rất thực, thực đi từ một giọt nắng, vạt áo, một mắc liếc đến độ ngắn của váynhưng thơ đã ảo hóa để mộng mị lên ngày. Với tập thơ đầu tay “Khúc hát người xa xứ “(Thơ. NXB Trẻ, 1990), TNH đã được đặc cách kết nạp Hội Nhà Văn Việt Nam, nhanh chóng định vị một giọng thơ riêng, và sau tập thứ hai, Cỏ, tuổi hai mươi (Thơ, NXB Văn Nghệ Tp HCM 1992),TNH  tiếp tục giành chỗ trong lòng người đọc khi được bầu chọn là Nhà thơ được yêu thích nhất 1992 ( Báo Người Lao động tổ chức).

 

 

1- Một Trương Nam Hương lạc quê nhà

 

Quê nội ở Huế, quê ngoại Bắc Ninh, lớn lên ở Hà Nội, 12 tuổi đã vào Sài Gòn, TNH là một trường hợp lạc quê nhà nên thơ anh bao giờ cũng thảng thốt tiếng gọi nhớ thương.

Hà Nội trong anh là quả sấu hườm/ Lăn chua ngọt dọc thời bé dại

Que kem cầm mát lạnh gió Hồ Gươm/ Hà Nội trong anh đuôi mắt lá răm

Tiếng con gái Ngọc Hà đáo để/ Ngực lên trăng hồi hộp mơ rằm. ( Ký ức Hà Nội)

Que kem, quả sấu hườm, gió Hồ Gươm, ngực trăng con gái Ngọc Hà …Tất cả là hành trang của cậu bé lên 12 khi chia tay Hà Nội  để mà ngoảnh lại diết da, mơ mộng, nhớ thương.

Còn với Huế, thơ anh vang âm như một nguyện cầu, nghe trắc ẩn đậu lên cánh buồm cha:

Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi! (Huế trong ta)

Lạc quê, lạc nhà, nỗi buồn anh gói lại thành thơ và chỉ có những bèo bọt thế này dâng tặng quê nhà.

Ngày về sau tháng năm xa/ Trắng bàn tay, trắng dần qua mái đầu

Có gì để tặng quê đâu/ Đời thơ bèo bọt dăm câu bọt bèo (Câu thơ ngày về)

Đó là nỗi buồn rất hiện sinh hiện đại vì thực tế, người về quê áo mũ xênh xang quyền vị, xe xuống ngựa lên, riêng nhà thơ vẫn tay trắng, ngậm ngùi:

Ơi sông Hương, hỡi sông Hồng/ Giọng tôi lạc giữa mênh mông nỗi buồn

Giờ xin ngồi khóc với nguồn…

Cay cực hay buồn rầu, nhà thơ thắp một nén nhang cho Nguyễn Bính rồi…nhắm rượu.

Người nhắm thơ mình, ta nhắm rượu/ Thắp nhang hồn Bính sẽ theo về

Năm mươi năm trước tha hương ấy/ Bính khóc giùm ta nỗi vắng quê

Nếu Lý Bạch ngày ấy “đê đầu tư cố hương” thì TNH lại cúi xuống trên tay để …khóc. Một nắm tuyết xứ người bỗng viên thành nỗi nhớ quê nhà trắng cát lại hóa thân thành giọt trắng nước mắt trên tay:

Thương một góc quê nhà trắng cát/ Tuyết anh cầm như nước mắt trên tay (Tuyết)

Quê nhà, còn đó là cha mẹ, anh chị, những mặt người thân yêu. Thơ TNH chảy rưng rức xúc cảm chân thành về Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha nên đã chinh phục được bạn đọc nhấm nhá khi nghĩ về người thân yêu đã khuất.

Nhìn vào lòng mình, là hình ảnh cha trên cánh đóng thất bát: Cha trắng tay câu hát lỡ đem cầm / Về chống cuốc lên cánh đồng lỡ vận, là ngày mẹ ta đi biền biệt không về: Ta đâu biết có một ngày buồn thế / Mẹ chờ ta thiếp mãi với trăng rằm. TNH thật biết làm người ta động lòng khi dẹp quách cái ảo hóa của thơ để nói thực nhưng một chống cuốc, một ngày buồn thế  là cái giọng riêng của TNH. Mật mã/ không mật mã. TNH đã biết khi nào cần bẻ khóa mở toang những mật mã để tiếp cận với người đọc. Trong khi cảnh tượng nghệ thuật đương đại đầy rẫy những cái hỗn mang về đạo đức thì  hình ảnh mẹ “thiếp mãi với trăng rằm” là một sự đối lập với cái “trí tuệ tội nghiệp” của ai đó, để bừng hiện ánh sáng của trí tuệ chân thật, không tách rời đạo đức và mỹ cảm thời đại.

 

2- Một Trương Nam Hương, vần thơ lấm láp nhân sinh

Mỗi người có một tạng và TNH, đúng như nhà thơ Nguyễn Trọng tạo nhận định, là tạng buồn, người của nỗi buồn. Nhưng nỗi buồn cũng nhiều loại, nhiều tầng bậc: buồn thương, buồn đau, buồn giận, buồn chán, buồn bi phẫn, buồn vẩn vơ …Tôi nghĩ, TNH không có điệu buồn chiều của Huy Cận “không biết vì sao tôi buồn” cũng không đem thơ vào phẫn hận với phẫn nộ. Viết về cỏ, nhà thơ không vui khi trong cuộc sống, khổ đau đang vươn tầm cao, nước mắt nhiều hơn cả cỏ nhưng đằng sau là hy vọng, là lấp loáng một chấp nhận thanh thản… 

Cao hơn mọi khổ đau. Cao hơn nhiều hạnh phúc/ Cỏ biếc như niềm vui, cỏ xanh như nước mắt/ Vẫn  nhận mình thấp bé – Thản nhiên xanh…(Thoáng nghĩ về cỏ)

Trong toàn bài, cái điệp khúc  Thản nhiên xanh cứ như mọc lên, tầng tầng lớp lớp đến ngạc nhiên, đến ngút ngợp nên nỗi buồn của TNH lại hóa thành một thông điệp của bao dung.

Thơ Hương rõ ràng là nhàu nhỉ với nhân sinh lem lọ nhưng không làm ta buồn đến chán, đến ghét cuộc sống này. Miền Em là một ví dụ khác:

Trong hỗn độn hiện sinh em /Thế giới chập chờn
Những giấc mơ số phận /Trúc xinh xưa chiếu trải đầu đình
Em Tấm @ chân dài váy ngắn / Cái sự đời bánh đúc chanh chua

Chính xác là thơ có chút chanh chua the thía nhưng rồi ra là một gợi ý cho chân dài váy ngắn nghĩ suy về một nền nã của “ trúc xinh” ngày ấy. Không phê phán thẳng thừng, không hằn học, đó chỉ là nỗi buồn của TNH khi chạm mặt với cái hỗn độn của hôm nay.

Một ô cửa và thời gian phi, biển dâu hiện lộ với những bất trắc cuộc ngày, nên không thể mỉm một nụ cười  

Sen bắt đầu tàn trên vuông đầm cuối hạ/ Em chống cằm xanh xót đầu thu. (Ô cửa)

Mùa xuân, hoa vàng bướm trắng nắng quơ râu nhưng TNH đang lạc mình nên  tình xuân không chớm nổi trong lòng: 

Tự dưng nhớ nhớ những điều tưởng quên/Lặng im nghe gió khuyết ngang muộn phiền Mùa xuân bồi đắp triệu mầm cỏ lên. (Tạp nghĩ).

Tuy nhiên, Hương vẫn đang hát về cỏ với triệu mầm bung vỡ. Thành ra, thơ anh không làm ta buồn đến chán, đến nôn thốc vì niềm tin đã cắm cọc đợi chờ…

 

 

3- Đi tìm một Trương Nam Hương 

 

Với tôi, văn chương là một nghề đầy nhọc nhằn và bất trắc, nó chẳng hứa hẹn một điều gì với người cầm bút. Tôi đến với thơ là để tìm mình, về với chính mình. Câu thơ tôi sinh thành từ nỗi cô đơn để an ủi những điều bất hạnh”* Anh đang ngồi với tôi, cặp kính trắng và vầng trán rộng, giọng cứ như thầm thì chia sẻ vì không cần phải lên gân vặn dây thiều cho thi ca. Làm thơ là để tìm mình trong nguồn cội, trong nhọc nhằn nhân sinh. Thơ thứ thiệt không chỉ để rêu rao cái tôi thương vay khóc mướn hay rêu rao giường chiếu tình dục. Thơ có thể chăng là ủi an những bất hạnh. Phải chăng đó chính là cứu cánh cuối cùng của thơ?

 

Phú Nhuận 8/12/2011.

LÊ VŨ 

 

* Quan niệm về văn chương của TNH

 

Lên sóng lúc 12:47 ngày 06.02.2012

  

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                    

 

  

 

 

  

 

 

 

  , Gương mặt văn học 30 năm TP HCM 1975-2005 chính bằng những câu thơ Tình