Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

TRƯƠNG NAM HƯƠNG & NHỮNG CON CHỮ ĐẦY VUN NGHĨA

                                                                                                       LÊ VŨ
 

Trương  Nam Hương & những con chữ đầy vun nghĩa

 

Gần giống với loại truyện chớp (flash fiction) hay truyện nhanh (fast fiction), mini thơ là một thuật ngữ chỉ loại thơ không dài quá vài mươi âm tiết, là một đối cực phía bên này của trường ca. Nhưng Minithơ ở đây, không là thuật ngữ mà là nhan đề một tập thơ của Trương Nam Hương(TNH) và nội hàm của nó vượt lên sự chỉ định về cấu trúc, độ ngắn dài của dung lượng thơ. Minithơ ( NXB Thanh Niên), như thế, là những khoảnh khắc vụt hiện, là những chớp lóe của xúc cảm và trí tuệ.Cái chợt đến có thể là một đốn ngộ, một vùng ký ức, một nỗi nhớ đầy, một ánh chớp tư duy và cả da diết những thương yêu.

Đa phần người đọc hiện nay thường nhìn thấy nghĩa trước chữ, muốn đọc/ hiểu nghĩa mà không mấy quan tâm đến chữ dù đó là rõ ràng là “chữ- nghĩa”. Nếu đọc truyện chớp hay Minithơ theo hướng này chắc chắn sẽ thất bại vì những hạt Chữ cực thiểu…sẽ phát sinh trùng trùng nghĩa (nghĩa đen- nghĩa bóng- liên nghiã- hàm nghĩa, trường nghĩa…) đồng thời mở ra cả một thế giới vô tận kỳ cùng. Quệt mắt nghe buồn mặn xuống môi! (Ảo giác). Chỉ có bảy chữ, bảy âm tiết mà run rẩy những ám tượng ảnh tượng trong đó có cử chỉ (quệt), có ý thức (nghe), có vị giác (mặn), có cái tâm(buồn), có chiều đi(xuống), có dòng chảy(nước mắt). Câu thơ hình dung một con người, vẽ một tâm trạng, nặn một bức tượng mắt môi trong đêm…? Và từ đó nhiều liên tưởng có thể mở ra: sự chia biệt, nỗi đớn đau, thân phận con người, hằng hà vũ trụ sao bay…tùy theo tâm cảnh của người đọc. Lấy một ví dụ khác trong bài Gân sóng: Hy vọng chưa lần thôi quẫy/ Trong từng lớp sóng gân tay. Ta lại thấy chữ đã phát sinh nghĩa: quẫy là sự xô dậy của sóng, của hy vọng, của tâm trí, của tương lai, của cả một bến bờ sông…lớp sóng gân tay còn tượng hình hơn khi vẽ một đường bay từ sông đến người, từ những vệt nhăn nhíu của mặt sóng đến hàng hàng gân tay, từ cụ thể đến cụ thể mà mở ra bao nhiêu trừu tượng của một kiếp người, của đời sóng…Hãy nghe thêm một chữ “thót” trong Khoảng lặng:

Cỏ mềm xanh thót trái tim

Ta ngồi ngóng khoảng chiều im, thót buồn

Chim kêu thót ngực hoa vườn

Em xa, hòn sỏi cuối đường thót đau!

Khoảng lặng ở đây được nhấn nhá đến 4 lần trong bốn câu thơ với các nghĩa khác nhau. Câu 1 tưởng như một nghịch lý: cỏ mênh mông xanh làm tim se thắt lại; câu 2 nghe ra một vỗ về khi đợi chiều im để buồn đến bất chợt; câu 3 là một khua vang của âm thanh làm cho thảng thốt giật mình (chim & hoa) và câu 4 kết thúc là một đột ngột chuyển động, nhanh và mạnh: cơn đau. Khoảng lặng như thế đi từ thấp lên cao, từ im ỉm đến im im đến chuyển động và vỡ ra. Vỡ thành niềm kinh ngạc. Cái tài hoa và tinh tế của TNH đích thực là ở đây, không ở chỗ nào khác. Đó là dùng những con chữ cực thiểu mang nội hàm cực đại .       

Với Minithơ, TNH không có tham vọng phản ánh hiện thực thậm phồn, không biện bày tầng tầng lớp lớp những hỗn mang bất trắc của cuộc sống đơn giản chỉ là những thoáng qua, nghĩ về,trực cảm của tâm linh tâm tình. Mỗi bài thơ, do đó gói lại một “chút nghĩ”, mỗi hình ảnh là một nét vẽ, mỗi từ là một chấm phá tái hiện những hồi ức, chiêm nghiệm về  cuộc đời, về tình quê, tình đời…

Tỉnh giấc là một nhận diện về sinh tử đôi bờ, không cần hoặc nghi, là hỏi để khẳng định: Chết là tỉnh giấc! Mẹ tin không! Trưa quê khác hơn, là nỗi nhớ rất đầy với ngơ ngác, eo óc khi đối diện mộ bà, châu chấu chuồn chuồn với tiếng gà trên tay:

Quê nhà ngơ ngác về thương

Thời gian bêu mặt cánh chuồn đỏ gay

Mộ bà châu chấu vù bay

Trưa cầm eo óc trên tay tiếng gà.

Hai cặp lục bát không có lấy một từ thừa và bức tranh cứ âm âm thương nhớ trong sắc đỏ cánh chuồn, ri ri cánh bay châu chấu và nhao nhác tiếng gà trưa. Ghi ở vườn chùa phóng thoát một tâm tình phiêu dật, không nhuốm màu tục lụy dù là môi chạm môi: Một chuông vừa dứt hai môi chụm vào. Tuổi thơ trong veo trong một động thái chiêm bái và niềm tin trong suốt: Mẹ quỳ tôi nép quỳ theo/Lạy từ ngọn cỏ lạy veo…tới trời!.  Còn Ký ức là quả sấu, lá bàng, tiếng ve đáy túi buồn ngơ. Khi thì anh vẽ một Bông cúc nhỏ để nồng nàn: Hiên không đủ kín cho em khóc/ Cặp sách che hờ ngực áo thưa. Lúc lại cợt nhạo chính mình: Tối om, xộc xệch bố về/ Ngỡ ông say rượu giữa khuya lạc nhà( Lời con). Rồi lại bâng quơ, xa xót: Tình người lắm lúc cũng hay/ Đầu tiên ở mắt mai này ở lưng/ Bàn dửng dưng,ghế dửng dưng/ Hai dưng dửng ấy đã từng yêu nhau.(Tình buồn) Với Minithơ, TNH không nói gì nhiều về thế giới vây quanh mà nói với mình trong phút giây lặng im của ngày.

Ngày rồi cũng xáo động với vui và buồn những đắng đót đắng chát nên giọng điệu của minithơ cũng lắm vẻ hoặc nghi, giễu cợt, tình tứ, đớn đau, xao xác…có khi gần với haiku, có khi lại mang màu sắc của “chủ nghĩa kinh điển tự nhiên“ (natural classicism). Riêng một nụ cười cũng trăm ngàn sắc điệu. Ngọt lừ cái lưỡi…yêu tinh/ Cứ vâng dù chắc cái tình…không vâng (Băn khoăn) Rõ ràng, cái lưỡi yêu tinh thì rằng không thể tin, đành…cười, cười nụ. Thế nhưng, khi đi Tìm mình, anh bỗng nở nụ chua chát: Tìm mình/ không biết/ lẫn mình đâu!, còn đi tìm chân thiện lại càng cay cực hơn để cười: Lạ chưa cái thiện cái hiền/ Lại lo cái ác cái hèn mắng cho! Vẹt người còn nóng hơn khi không cần che giấu: Trong lồng đời chật hẹp/ Lưỡi cắm nhầm lưỡi thôi.

Để nén chặt, nêm cứng ý nghĩa trong từng chữ, nhà thơ đã cố gắng vận dụng rất nhiều cách diễn đạt mới và cả ngôn từ mang phong cách TNH kiểu như: ù oa, thủng thót, vơn vơ, thơ thẳm, lơ lắc, lấp lơ…Nhìn chung, đó là từ láy tượng thanh tượng hình giàu chất biểu cảm và sắc thái Việt. Có thể nói, TNH đang làm cuộc hôn phối giữa truyền thống và hiện đại khi dùng hình thức cũ (thơ 8 chữ, thất ngôn tứ tuyệt, lục bát …) để diễn đạt tâm tình của người đương đại trên nẻo về của Việt tính dân tộc bằng cách lược bớt những từ Hán Việt mang dáng vẻ đèm đẹp và trang trọng. Lên Yên Tử dù tả cảnh và còn phơ phảng Đường thi, vẫn thuần Việt trừ mấy từ “Trúc, Tùng, vái…”.    

Ngày mỏng mờ hơn chuông rõ hơn   

Trúc vin nghìn bậc đá rêu mòn

Núi khom khom vái mây dâng lễ

Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm!

Một so sánh tưởng như ơ hờ “ngày mỏng mờ hơn” đã khiến thơ bay lên trên nghìn trùng cao của nghìn bậc đá Yên Tử để người đọc phải mơ mang.

            Có thể nói, Minithơ mang đến cho ta nhiều lạ lẫm nghĩ suy với thảng thốt của tâm hồn. Nhà văn đích thực không có gì để nói cả. Điều đáng kể là cách nói” . (Robbe-Grillet). Với Minithơ, TNH đang có cách nói  của mình.
 
LÊ VŨ
 
Lên sóng lúc 15:30 ngày 08.02.2012