Trang Chủ‎ > ‎Sóng Luận‎ > ‎

VỀ ĐỊA DANH ĐÀ NẴNG - Hoài Quảng PHANTHANH MINH

 
 

 

Tháng 11 năm 2011, tác giả Vũ Hùng đã lần lượt công bố bài viết “Ngữ địa danh Đà Nẵng” trên tạp chí Xưa & Nay, Non Nước, báo Đà Nẵng (số cuối tuần ngày 05/11/2012)… Ở bài viết, tác giả đã khái quát cách gọi, cách viết danh xưng Đà Nẵng có gốc gác từ ngôn ngữ Chămpa, là bộ phận của ngôn ngữ Mã Lai - Đa đảo từ các nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu: Nguyễn Phước Tương, Võ Văn Dật, Nguyễn Sinh Duy, TS. Lê Văn Hảo, Sakaya, Gerard Moussay…  Qua đó, về gốc gác của chữ “Đà Nẵng” được tác giả giới thiệu bằng những dẫn chứng:

- Đà Nẵng: Sông Già, Sông Lớn. Đà: sông, nước; Nẵng: già, lớn (Nguyễn Phước Tương,  Đất Hàn xưa, Báo Đà Nẵng cuối tuần, ngày 17-10-2004).

- Đà Nẵng:  theo nhà nghiên cứu Lam Giang cho rằng người Chăm gọi là Hang Đanak (Bờ Biển Buôn Bán) ; còn “Đanak” hay “Đarak”: Sông Lớn, tức Sông Hàn  (Võ Văn Dật, Tiểu luận cao học sử học Lịch sử Đà Nẵng, Viện Đại học Huế, Trường Đại học Văn khoa, 1974).

- Đà Nẵng: tên gọi do người Việt mượn của tiếng Chăm mà Việt hóa theo âm Hán Việt một cách tài tình, giữ cả âm lẫn nghĩa: vùng sông nước xưa kia”; trong đó chữ đà là con sông, chữ nẵng là xưa kia (Lê Văn Hảo, Về các địa danh Bà Thân, Hà Thân, Hà Thị Thân ở Đà Nẵng, tạp chí Phát triển kinh tế-xã hội Đà Nẵng, số 16+17 năm 2011.

          -  Đà Nẵng: theo nhà nghiên cứu Sakaya có nguồn gốc cả tiếng Chăm và tiếng Raglai là “Danang”:  nghĩa là nguồn, sông nguồn ( Nguyễn Sinh Duy, Quảng Nam và những vấn đề sử học, NXB Văn hóa-Thông tin,  2005)

          v.v…

          Như vậy, danh xưng Đà Nẵng theo tác giả Vũ Hùng lý giải là có nguồn gốc từ tiếng Chăm, nghĩa của nó là Sông Lớn, Sông Già… theo cách giải thích khác nhau của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, tại bài viết, tác giả chưa giải thích cặn kẻ nghĩa gốc của của nó cũng như mối liên quan đến hệ ngôn ngữ Mã Lai - Đa đảo, hiểu theo phương pháp luận: địa danh đi kèm với danh pháp.

 

          Tại bài viết này chúng tôi mong được nói rõ hơn về ngữ địa danh Đà Nẵng:

          - Trước hêt cần phải hiểu, “ địa danh thường đi kèm với danh pháp, tức là danh từ chung chỉ đối tượng địa hình. Những địa danh từ thời cổ đại thường là chỉ danh từ chung. Ví dụ ở châu Âu, song Đanuýp chảy qua Đức, Áo gọi là Đônau (Donau), qua Nga là Đunai có nghĩa là nước (lã). Cũng giống như vậy, ở châu  Á, ngay tại nước ta, “Kông” trong tên sông Mê Kông  chính là từ “sông” (sông mẹ); tên sông Trường Giang, theo từ điển Từ Hải thì “Giang” được ghi cách đọc bằng chữ “công”. Như vậy cả hai con sông lớn nhất ôm lấy cả vùng Đông Nam Á có tên gọi ban đầu là sông nước, không khác gì tên sông Đanuýp ở Trung Âu” (Hoàng Thị Châu, Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phương pháp nhập nôi địa danh, hhtp://ngonngu.net).

          Như vậy, “Đà Nẵng” cũng tên gọi ban đầu của “sông nước”, gống như “sông”, “kông”, “khoong”, “giang”… ở vùng Đông Nam Á, hay “Đanuýp” ở chấu Âu; cụ thể hơn là tên gọi ban đầu có gốc gác ngữ hệ Mã Lai - Đa đảo thường gặp khắp vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên; “gia “(Vu Gia), “rằng” ( Đà Rằng),  “ra” (Rarang, Rayang, tên gọi khác là Đà Rằng)… Trong đó các thành tố “đà”, “ra”, “da”, “gia”… theo cách nói và cách viết phổ biến ngày nay đều có nghĩa là “nước” (ở Quảng Nam và Đà nẵng ta thường bắt gặp trò chơi phổ biến của trẻ con có tên gọi là “ma da lên bờ” , theo điều mê tín trong dân gian thì người nào đó bị chết trên sông, suối thường gọi là bị “ma da bắt”; “ma da” là “ma nước”, “yă” theo từ điển tiếng Chăn là “nước”); “nẵng”, “rang”, “yang”… đều có nghĩa là “sông”.

          Sở dĩ có hiện tượng “ra, da, ya” biến thành “đà” chính là quy luật biến hóa của sự vận động ngôn ngư theo thời gian. Lý giải điều này, học giả Phan Khôi trong tác phẩm Việt Ngữ Nghiên Cứu đã vận dụng phương pháp so sánh chữ Quốc ngữ với chữ Nôm đã nêu vì sao các cố đạo mấy trăm trước dùng mẫu tự La tinh đặt nên chữ Quốc ngữ lại lấy “đê” (d) làm “dê”, lại thêm cho d một gạch ngang đọc là “đê” (trong khi mẫu tự La tinh có sẵn chữ “z” mà trong chữ quốc ngữ thì không thấy (?)). Sở dĩ có hiện tượng trên, theo ông, “d và đ gần nhau lắm, lấy ví dụ, hai âm ấy cũng như anh em chị em ruột với nhau” (ví dụ: cây da/ cây đa, cái dĩa/ cái đĩa, con dao/ con đao, trên dưới/ trên đưới, không dám/ không đám, dặng hắng/ đằng hắng…). Tương quan đến hiện tượng này, ông còn dẫn chứng bằng những ví dụ khác: bua quan/ vua quan, be rượu/ ve rượu, cái bú/ cái vú, chết bằm/ chết vằm, ăn vận/ ăn bận… và cả trời/ giời/ lời/ blời trong “Đức Chúa Trời/ Lời/ Blời” đó sao (?) (sđd, nxb Đà Nẵng, 2003).

            - Liên quan đến việc giải thích về địa danh Đà Nẵng, tại trang website@danabf.gov.vn  của Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng, viết rằng: “địa danh Đà nẵng có thể được giải thích theo ngôn ngữ Chăm có nghĩa là “sông lớn” hay “sông cửa cái”.

          Thực ra, “Đà Nẵng” nếu phân tích tích kỹ và  vận dụng mối quan hệ với một số địa danh gần gũi vốn là vùng đất các tiểu vương quốc Chămpa thì sẽ thấy nó có gốc gác giống như Đà Rằng (địa danh và cũng là tên sông lớn ở Phú Yên) hay Rarang (cũng còn gọi là Sông Ba, sông Đà Rằng). Nghĩa là ban đầu “Đà Nẵng” hay “Đà Rằng”, “Vu Gia” (tên con sông lớn ở Quảng Nam), Krông Nô ( sông lớn ở Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng)… vốn là danh từ  chung, chỉ đối tương địa hình là “sông nước”, sau mới thành danh  từ riêng theo cách viết và cách đọc khác nhau (bảng Hán tự, La tinh, tiêng Pháp, Quốc ngữ…). Riêng danh pháp “Đà Nẵng” vốn gốc gác từ tiếng Chăm, được ghi bằng chữ Hán xuất hiện có thể sớm trên sách Ô Châu Cận Lục do tiến sĩ Dương Văn An nhuận sắc vào thế kỷ XVI.

          Đôi điều được trao đổi.

 

 

Hoài Quảng PHAN THANH MINH

 

Lên sóng lúc 16:53 ngày 25.02.2012